- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị H- Hoàng Trung Th"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 153 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 200/2021/HNGĐ-ST Ngày 29-11-2021 V/v xác định cha cho con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THNH PHỐ HẢI PHÒNG
- THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thúy H
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Mai Vinh
Bà Nguyễn Thị Luyến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Quỳnh Như - Thư ký Tòa án nhân dân tHnh phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tHnh phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Bích Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tHnh phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 172/2020/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2020 về việc xác định cha cho con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 172/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2021 và Thông báo mở lại phiên tòa số 2134/TB-TA ngày 11 tháng 10 năm 2021 của Tòa án nhân dân tHnh phố Hải Phòng, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H; nơi cư trú: Thôn 5, xã Du L, huyện Kiến Th, tHnh phố Hải Phòng; vắng mặt và có đơn đề nghị vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Hoàng Trung T; nơi cư trú: Thôn 5, xã Du L, huyện Kiến Th, tHnh phố Hải Phòng; vắng mặt và có đơn đề nghị vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Kim Chang S; nơi cư trú: # 497, Sang Bu - Ri girae - Myn Kim Cheon - Si Kgung Sang Buk - Do, Korea (Hn Quốc); vắng mặt và đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:
Chị và anh Kim Chang Su quen biết nhau từ năm 2008, có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Sở tư pháp tHnh phố Hải Phòng vào ngày 03/9/2008. Sau khi kết hôn, chị H sang Hàn Quốc chung sống cùng anh Kim Chang S. Quá trình chung sống không hòa thuận, chưa có con chung, chị H đã trốn khỏi nH chồng để ra ngoài đi làm đến năm 2015 thì trở về Việt Nam. Năm 2017, chị có làm đơn xin ly hôn anh Kim Chang Su tại Tòa án nhân dân tHnh phố Hải Phòng. Trong quá trình chưa chấm dứt hôn nhân về mặt pháp lý với anh Kim Chang Su, chị đã có quan hệ tình cảm và có con với anh Hoàng Trung T, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn 5, xã Du L, huyện Kiến Th, thành phố Hải Phòng và sinh được 01 cháu trai vào ngày 14/4/2018, tên dự sinh là Hoàng Trung Minh Q theo giấy chứng sinh số 32 ngày 14/4/2018 của bệnh viện Kiến An, tHnh phố Hải Phòng. Đến ngày 14/9/2018, Tòa án nhân dân tHnh phố Hải Phòng đã xét xử cho chị được ly hôn anh Kim Chang Su tại Bản án số 98/2018/HNGĐ-ST, xác nhận về con chung và tài sản chung, chị và anh Kim Chang Su không có.
Ngày 17/10/2019, chị Nguyễn Thị H và anh Hoàng Trung T đã làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Du Lễ, huyện Kiến Thụy, tHnh phố Hải Phòng.
Nay cháu Hoàng Trung Minh Q đã lớn, để đảm bảo quyền lợi cho cháu theo pháp luật, chị H đề nghị Tòa án xác nhận anh Hoàng Trung T là cha đẻ của cháu Quang, không phải là con của anh Kim Chang S.
Tại bản tự khai bị đơn anh Hoàng Trung T trình bày:
Anh thống nhất với lời khai của chị Nguyễn Thị H về việc xác nhận cha cho con. Anh đề nghị Tòa án nhân dân tHnh phố Hải Phòng xác nhận cháu bé do chị H sinh ra là: Hoàng Trung Minh Q (tên dự sinh), sinh ngày 14/4/2018 theo Giấy chứng sinh số 32 ngày 14/4/2018 của Bệnh viện Kiến An, tHnh phố Hải Phòng là con đẻ của anh với chị H.
Đối với kết quả ủy thác cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Kim Chang Su:
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến Hnh việc ủy thác thông qua Bộ Tư pháp. Ngày 14 tháng 12 năm 2020, Tòa án nhân dân tHnh phố Hải Phòng đã nhận được Công văn số 2599/CH-BTP ngày 30/11/2020 của Bộ Tư pháp về việc Bộ Tư pháp đã gửi hồ sơ ủy thác tư pháp cho Cục Quản lý Tòa án quốc gia, Đại Hn Dân Quốc để tống đạt văn bản tố tụng cho anh Kim Chang S. Ngày 15 tháng 7 năm 2021, Tòa án nhân dân tHnh phố Hải Phòng đã mở phiên tòa lần thứ nhất nhưng do chưa nhận được văn bản thông báo về kết quả tống đạt cũng như lời khai, tài liệu, chứng cứ của anh Kim Chang S và tại phiên tòa anh Kim Chang S không có mặt, không có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do đó, Tòa án nhân dân tHnh phố Hải Phòng đã hoãn phiên tòa. Ngày 15/7/2021, Tòa án có Công văn số 1530/TA-TGĐ&NCTT gửi Bộ Tư pháp về việc đề nghị thông báo thực hiện văn bản tố tụng đối với anh Kim Chang S. Ngày 27/9/2021, Tòa án nhân dân tHnh phố Hải Phòng đã nhận được Công văn số 2662/BTP-PLQT ngày 08/9/2021 của Bộ Tư pháp về kết quả ủy thác tư pháp thể hiện: Tài liệu không thể tống đạt được do người nhận không xác định. Vì vậy, ngày 11/10/2021 Tòa án nhân dân tHnh phố Hải Phòng đã có Công văn số 2132/TA-TGĐ&NCTN gửi Đại sứ quán nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Hn Quốc đề nghị tống đạt, niêm yết và thông báo công khai văn bản tố tụng; đồng thời đã thông báo trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao ngày 11/10/2021.
Tại phiên tòa, các đương sự đều vắng mặt, chị H và anh Th có đơn xin xét xử vắng mặt, giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, ý kiến và không có sự thay đổi nội dung tại đơn khởi kiện và bản tự khai.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tHnh phố Hải Phòng phát biểu quan điểm:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã chấp Hnh đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc xét xử vắng mặt các đương sự theo đúng quy định tại Điều 227, Điều 288, điểm a khoản 5 Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Xác định cháu bé do chị H sinh ra là: Hoàng Trung Minh Q (tên dự sinh), sinh ngày 14/4/2018 theo Giấy chứng sinh số 32 ngày 14/4/2018 của Bệnh viện Kiến An, tHnh phố Hải Phòng là con đẻ của anh Hoàng Trung T với chị Nguyễn Thị H. Về án phí và phí ủy thác tư pháp: Chị Nguyễn Thị H không phải chịu án phí đề nghị xác định cha cho con nhưng phải chịu phí ủy thác tư pháp theo quy định của pháp luật. Anh Hoàng Trung T phải chịu án phí dân sự theo quy định pháp luật. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
- Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền: Đây là vụ án về việc xác định cha cho con, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H đang sinh sống tại Hải Phòng, bị đơn anh Hoàng Trung T sinh sống tại Hải Phòng. Tuy nhiên, anh Kim Chang Su là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là người nước ngoài và sinh sống tại Hn Quốc, theo quy định tại khoản 1, khoản 4 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tHnh phố Hải Phòng.
Về việc vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa sơ thẩm, các đương sự đều vắng mặt nhưng nguyên đơn và bị đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Kim Chang S vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến Hnh xét xử vắng mặt các đương sự.
- Về nội dung:
Về yêu cầu xác định cha cho con: Theo lời khai của chị Nguyễn Thị H và anh Hoàng Trung T thể hiện: Cháu bé do chị H sinh ra là: Hoàng Trung Minh Q (tên dự sinh), sinh ngày 14/4/2018 theo Giấy chứng sinh số 32 ngày 14/4/2018 của Bệnh viện Kiến An, tHnh phố Hải Phòng là con đẻ của anh Hoàng Trung T với chị Nguyễn Thị H. Tại Kết quả xét nghiệm ADN ngày 07/10/2019 của Trung tâm công nghệ di truyền Việt Nam thể hiện: Anh Hoàng Trung T có quan hệ huyết thống cha-con với cháu Hoàng Trung Minh Q, với độ tin cậy 99,9999523%. Từ phân tích nêu trên, căn cứ vào Điều 88, Điều 89, Điều 91 của Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị H xác định anh Hoàng Trung T là cha đẻ của cháu Hoàng Trung Minh Q.
Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí ủy thác tư pháp:
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị H không phải chịu án phí về việc đề nghị xác nhận cha cho con. Anh Hoàng Trung T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Về chi phí ủy thác tư pháp: Chị Nguyễn Thị H là nguyên đơn nên phải chịu phí ủy thác tư pháp theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; Khoản 1 Điều 147; Điều 153; Điều 207; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 273; điểm d khoản 1 Điều 469; điểm a khoản 5 Điều 477; Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H:
1. Xác định anh Hoàng Trung T là cha đẻ của cháu Hoàng Trung Minh Q (tên dự sinh), sinh ngày 14/4/2018 theo Giấy chứng sinh số 32 ngày 14/4/2018 của Bệnh viện Kiến An, tHnh phố Hải Phòng.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Hoàng Trung T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về chi phí ủy thác tư pháp: Chị Nguyễn Thị H phải nộp 200.000 đồng phí ủy thác tư pháp nhưng được trừ vào số tiền 200.000 đồng phí ủy thác tư pháp đã nộp theo Biên lai thu số 0019013 ngày 08 tháng 10 năm 2020 tại Cục Thi Hnh án dân sự tHnh phố Hải Phòng, chị Nguyễn Thị H đã nộp đủ.
4. Về quyền kháng cáo:
Chị Nguyễn Thị H và anh Hoàng Trung T (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.
Anh Kim Chang Su (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp Bản án được thi Hnh theo Điều 2 Luật Thi Hnh án dân sự thì người được thi Hnh án dân sự, người phải thi Hnh án dân sự có quyền thoả thuận thi Hnh án, quyền yêu cầu thi Hnh án, tự nguyện thi Hnh án hoặc bị cưỡng chế thi Hnh án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi Hnh án dân sự; thời hiệu thi Hnh án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi Hnh án dân sự./.
| Nơi nhận: - VKSND TP Hải Phòng; - Cục THADS TP Hải Phòng; - Sở Tư pháp, tHnh phố Hải Phòng; - Các đương sự (để thi Hnh); - Lưu: HCTP, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Thúy H |