vanban.org

Bản án 200/2020/HSST — Hình sự

TAND Q. Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 17/12/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Thị H, bị cáo Huỳnh Minh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Xử phạt bị cáo Phạm Thị H 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã Vũ Hòa, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận giám sát giáo dục trong thời gian thử thách Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Thị H, bị cáo Huỳnh Minh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 200/2020/HSST
Ngày: 17 - 12 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Võ Thị Mai

2. Bà Phạm Thị Bích Loan

Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Lê Quỳnh Thư

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy An - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 12 năm 2020 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 214/2020/HSST ngày 25 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 229/2020/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo:

1. Phạm Thị H; giới tính: Nữ, sinh năm 1983 tại tỉnh Bình Thuận; Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn 02, xã Vũ Hòa, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Con ông Phạm Xuân T (sinh năm 1955) và bà Phạm Thị T (sinh năm 1957); Hoàn cảnh gia đình: có chồng tên Trần Hồng H, sinh năm 1978 có 02 con sinh năm 2001 và 2003 ; Tiền án : không ; tiền sự : không; Bị cáo bị bắt và tạm giam ngày 16/9/2020. Bị cáo (Có mặt)

2. Huỳnh Minh H; giới tính: Nam, sinh năm 1984 tại tỉnh Tiền Giang; Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: ấp Bình Phú, xã Bình Ninh, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Con ông Huỳnh Phước N (sinh năm 1951) và bà Huỳnh Thị N (sinh năm 1949); Hoàn cảnh gia đình: có vợ tên Đỗ Thúy L, sinh năm 1987 có 02 con sinh năm 2007 và 2009 ; Tiền án : không ; tiền sự : không; Bị cáo bị bắt và tạm giam ngày 16/9/2020. Bị cáo (Có mặt)

Bị hại :

- Anh Cấn Văn L, sinh năm1975; Trú tại: 71/61 ấp 02, Nhị Bình, Phường 15, huyện Hóc Môn, Tp. Hồ Chí Minh (vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Trần Hồng H; Trú tại: khóm 02, Phường 05, Thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19h30 phút ngày 16/9/2020, Phạm Thị H, sinh năm 1983, HKTT: Xã Vũ Hòa, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận nhận được điện thoại của người thanh niên tên H (tên gọi khác là T, chưa rõ lai lịch) rủ đi trộm cắp tài sản lấy tiền chia nhau tiêu xài thì H đồng ý. Sau đó, H và H đi đến cầu vượt Hoàng Hoa Thám, quận Tân Bình để gặp Huỳnh Minh H (Tài), sinh năm 1984, HKTT: Xã Ninh Bình, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang và rủ H cùng đi trộm cắp tài sản thì H đồng ý. Xuất phát đi H chở H bằng xe máy hiệu Vario (không rõ biển số) còn H điều khiển xe gắn máy hiệu Winner biển số 94K1-713.77 đi theo H và H đi từ quận Tân Bình qua nhiều tuyến đường tìm tài sản sơ hở để chiếm đoạt. Khoảng 21h 51 phút cùng ngày khi đi đến trước số nhà 640/2 Nguyễn Oanh, Phường 6, quận Gò Vấp thì H phát hiện anh Cấn Văn Lộc, sinh năm 1975, HKTT: 73/1 đường số 3, Phường 3, quận Gò Vấp đang dừng xe trước nhà số 640/2 Nguyễn Oanh, Phường 6, quận Gò Vấp (có biểu hiện say xỉn) nên kêu H và H điều khiển xe đi đến gần cảnh giới cho H đi bộ đến tiếp cận anh L. H giả vờ làm gái mại dâm rủ anh L đi khách sạn quan hệ tình dục, lợi dụng sơ hở của anh L thì H luồn tay vào túi quần của anh L chiếm đoạt chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus rồi leo lên xe máy hiệu Winner biển số 94K1-713.77 do H chở tẩu thoát. Khi chạy đến đầu hẻm 640 giao với đường Nguyễn Oanh, Phường 6, quận Gò Vấp tổ tuần tra 363 Công an quận Gò Vấp trên đường tuần tra nghe tiếng truy hô của anh Cấn Văn L nên đuổi theo bắt giữ được H và H cùng vật chứng đưa về trụ sở lập biên bản phạm tội quả tang. Riêng H chạy xe tẩu thoát.

Tại Cơ quan điều tra, Phạm Thị H và Huỳnh Minh H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Vật chứng vụ án:

-01 điện thoại Iphone 8 Plus có số imei: 35671308050356. Tại kết luận định giá tài sản số 25/KL-HĐĐGTS ngày 23/9/2020 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng hình sự cấp quận - Ủy ban nhân dân quận Gò Vấp kết luận: 01 điện thoại Iphone 8 Plus có số imei: 35671308050356 đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 16/9/2020 là 8.000.000 đồng. (BL: 40-41). Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại chiếc điện thoại trên cho anh Cấn Văn L.

- 01 xe gắn máy hiệu Winner biển số 94K1-713.77, số máy KC26E1183173, số khung:RLHKC2603GY336899. Qua xác minh chiếc xe trên do anh Trần Hồng H, sinh năm 1977, HKTT: Khóm 2, Phường 5, TP. Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu làm chủ sở hữu. Tại Cơ quan điều tra H khai nhận mượn xe của anh H đi công việc. Anh H khai nhận có cho Huỳnh Minh H mượn xe còn việc H sử dụng xe đi trộm cắp tài sản thì H không biết. Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại chiếc xe trên cho anh Trần Hồng H.

Đối với đối tượng tên H (chưa rõ lai lịch) cùng với Huyền và H trộm cắp tài sản Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra khi nào bắt được sẽ xử lý sau.

Tại bản cáo trạng số 209/Ctr-VKS, ngày 23/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố bị cáo Phạm Thị H và Huỳnh Minh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Phạm Thị H và bị cáo Huỳnh Minh H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như kết luận điều tra và cáo trạng truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp sau khi phân tích nội dung vụ án, những tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, các tình tiết định tội, định khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khỏan 1 Điều 173, điểm i, s khỏan 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Phạm Thị H mức án từ 09 tháng đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm

- Xử phạt bị cáo Huỳnh Minh H mức án từ 09 tháng đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm

- Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.

Qua ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát các bị cáo nhất trí và không có ý kiến tranh luận gì, lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận Gò Vấp, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Lời khai của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai người bị hại, lời khai của người làm chứng, cùng với tang vật đã thu giữ, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan Công an quận Gò Vấp, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Tài sản bị cáo trộm cắp có giá trị 8.000.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của Phạm Thị H và Huỳnh Minh H đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung như Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Lợi dụng sự sơ hở mất cảnh giác của người bị hại, các bị cáo cố ý lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại, điều đó cho thấy các bị cáo rất xem thường pháp luật. Hành vi của các bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được Pháp luật và Nhà nước bảo hộ. Mặt khác, còn gây ảnh hưởng tác động xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội và trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo chỉ vì muốn có tiền tiêu xài phục vụ cho những nhu cầu cá nhân mà không pH thông qua lao động chân chính nên đã thực hiện hành vi phạm tội.

Xét, đây là vụ án có đồng phạm nhưng thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, bị cáo H cùng với đối tượng H (không rõ lai lịch) rủ bị cáo H cùng thống nhất ý chí thực hiện hành vi phạm tội nên khi lượng hình cần cân nhắc mức hình phạt phù hợp với từng vai trò bị cáo trong vụ án. Bị cáo Huyền là người trực tiếp chiếm đoạt chiếc điện thoại của người bị hại nên mức hình phạt của bị cáo H pH cao hơn bị cáo H.

4] Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét một số tình tiết: Các bị cáo chưa có tiền án tiền sự phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tại cơ quan điều tra cũng như diễn biến phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thật thà khai báo, thành khẩn nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải, gia đình bị cáo hiện nay có hoàn cảnh khó khăn, tài sản đã thu hồi trả cho bị hại nên áp dụng điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo khi lượng hình.

Xét, bị cáo Phạm Thị H và bị cáo Huỳnh Minh H cũng đã bị tạm giam từ ngày 16/9/2020 đến nay, trong thời gian tạm giam tạm giữ cũng đủ để các bị cáo thấy được lỗi lầm về hành vi sai trái mà mình đã thực hiện. Các bị cáo đều chưa có tiền án tiền sự và gia đình các bị cáo đều có hoàn cảnh khó khăn và là người có nhân thân tốt. Qua đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa nên căn cứ khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, Hội đồng xét xử nghĩ không cần thiết pH tiếp tục cách ly các bị cáo Phạm Thị H và Huỳnh Minh H ra khỏi xã hội, nên áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho các bị cáo Phạm Thị H, Huỳnh Minh H được hưởng án treo với thời gian thử thách lâu dài, tạo điều kiện cho các bị cáo lao động, cải tạo sống có ích cho xã hội. Căn cứ khoản 4 Điều 328 Bộ luật tố tụng Hình sự trả tự do ngay tại phiên tòa cho các bị cáo Phạm Thị H và bị cáo Huỳnh Minh H nếu các bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

[5] Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của các bị cáo nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Đối với đối tượng tên H (chưa rõ lai lịch) cùng với H và H trộm cắp tài sản Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra khi nào bắt được sẽ xử lý sau.

Về trách nhiệm dân sự : Tại phiên tòa, bị hại anh Cấn Văn Lộc vắng mặt nhưng qua hồ sơ thể hiện người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

-01 điện thoại Iphone 8 Plus có số imei: 35671308050356 các bị cáo đã chiếm đoạt của anh L. Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại chiếc điện thoại trên cho anh Cấn Văn L.

- 01 xe gắn máy hiệu Winner biển số 94K1-713.77, số máy KC26E1183173, số khung:RLHKC2603GY336899. Qua xác minh chiếc xe trên do anh Trần Hồng H, sinh năm 1977, HKTT: Khóm 2, Phường 5, TP. Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu làm chủ sở hữu. Tại Cơ quan điều tra H khai nhận mượn xe của anh H đi công việc. Anh H khai nhận có cho Huỳnh Minh H mượn xe còn việc H sử dụng xe đi trộm cắp tài sản thì H không biết. Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại chiếc xe trên cho anh Trần Hồng H.

Xét, việc trả lại các tài sản trên là hợp lệ nên Hội đồng xét xử không đưa ra xem xét giải quyết lại.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Phạm Thị H, bị cáo Huỳnh Minh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Phạm Thị H 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã Vũ Hòa, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận giám sát giáo dục trong thời gian thử thách

Xử phạt bị cáo Huỳnh Minh H 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã Bình Ninh, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Áp dụng khoản 4 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự;

Trả tự do cho các bị cáo Phạm Thị H và bị cáo Huỳnh Minh H ngay tại phiên tòa nếu các bị cáo không bị tam giam về một tội phạm khác.

Trong thời gian thử thách, các bị cáo được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo pH chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trong trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự năm 2019;

Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 ; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13, ngày 25/11/2015 của Quốc Hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;

Các bị cáo, mỗi bị cáo pH chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng. Nộp tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008;

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người pH thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

( đã giải thích chế định án treo) Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND TPHCM;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Chi cục thi hành án quận Gò Vấp;

- Công an quận Gò Vấp;

- Viện kiểm sát quận Gò Vấp;

- Người tham gia tố tụng;

- Bị cáo;

- PC27 công an TPHCM;

- THA hình sự;

- Lưu.

Phạm Thị Hương

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND TPHCM;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Chi cục thi hành án quận Gò Vấp;

- Công an quận Gò Vấp;

- Viện kiểm sát quận Gò Vấp;

- Người tham gia tố tụng;

- Bị cáo;

- PC27 công an TPHCM;

- THA hình sự;

- Lưu.

Phạm Thị Hương

Thực hiện theo tinh thần của Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015, Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc Hội và Công văn số 276/TANDTC –PC ngày 13/9/2016 của Tòa án nhân dân Tối cao về việc áp dụng một số quy định có lợi cho người phạm tội. Đối chiếu mức hình phạt của Bộ luật Hình sự năm 1999 với Bộ luật Hình sự năm 2015 thì mức hình phạt của Bộ luật Hình sự năm 2015 có lợi hơn cho bị cáo nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét cho bị cáo khi lượng hình.

Cỡ chữ