vanban.org

Bản án 200/2020/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 08/05/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 08/05/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trịnh Thụy Thùy T và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Xử phạt Trịnh Thụy Thùy T : 02 (Hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án. Án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trịnh Thụy Thùy T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trịnh Thụy Thùy T và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 200/2020/HS-PT
Ngày: 08-5-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Ngọc Thắng

Các Thẩm phán:

1. Ông Nguyễn Văn Hậu

2. Ông Lê Công Huân

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bảo Quốc – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Diệp - Kiểm sát viên.

Trong ngày 08 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 59/2020/HSPT ngày 08 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo Trịnh Thụy Thùy T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 118/2019/HS-ST ngày 14/11/2019 của Tòa án nhân dân Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị cáo có kháng cáo:

Trịnh Thụy Thùy T , sinh ngày 27 tháng 01 năm 1985 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nữ; Thường trú: 627 Tùng Thiện V, Phường X, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: 64/20B/5 Phạm Hùng, Phường 4, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Nhân viên vệ sinh; Học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trịnh Anh T và con bà: Lê Thị Thu N; Có chồng: và 02 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trịnh Thụy Thùy T là nhân viên vệ sinh của Bệnh viện An Bình, địa chỉ: số 146 An Bình, Phường 7, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh có ký hợp đồng lao động từ ngày 13/10/2018.

Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 07/12/2018, lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý thuốc của nhân viên Phòng cấp phát thuốc, nên Trịnh Thụy Thùy T nảy sinh ý định trộm cắp thuốc đem bán lấy tiền tiêu xài và trả nợ, cụ thể là: Trịnh Thụy Thùy T vào Phòng cấp phát thuốc bảo hiểm y tế của Bệnh viện An Bình thì gặp anh Quân, chị Hà, chị Vui đang làm việc trong phòng thì T đi đến chỗ để thùng giấy carton rỗng và hỏi xin những thùng này và lấy trộm một thùng thuốc chứa 80 hộp thuốc hiệu Coveram 5/10 (mỗi hộp 30 viên) bỏ vào thùng giấy không, ôm bằng hai tay đi ra ngoài. Do nghi ngờ, nên anh Quân giữ lại kiểm tra phát hiện bên trong thùng giấy có một thùng thuốc hiệu Coveram 5/10 (80 hộp) nên báo cho lãnh đạo Bệnh viện.

Ngay sau khi bắt quả tang thì Bệnh viện An Bình tiến hành kiểm kê số thuốc tại kho cấp phát thuốc bảo hiểm y tế, phát hiện mất số lượng lớn thuốc hiệu Coveram và Covesyl trị giá khoảng 150.168.742 đồng, nên ngày 10/12/2018 Bệnh viện An Bình đã đến Công an phường 7, Quận X trình báo sự việc.

Trịnh Thụy Thùy T khai nhận: Từ cuối tháng 11/2018 đến ngày 07/12/2018, tổng cộng Trịnh Thụy Thùy T đã trộm được: 01 thùng thuốc (80 hộp) hiệu Coveram 5/10. Qua định giá, tài sản trị giá 15.813.600 đồng; 03 thùng thuốc (240 hộp) hiệu Coveram 5/5. Qua định giá, tài sản trị giá 47.440.800 đồng; 01 thùng thuốc (80 hộp) hiệu Coversyl 10mg. Qua định giá, tài sản trị giá 19.104.000 đồng; 60 hộp thuốc hiệu Coveram 10/5. Qua định giá, tài sản trị giá 18.221.400 đồng. Như vậy, tổng trị giá tài sản chiếm đoạt qua định giá là 100.579.800 đồng.

Theo Bản án hình sự sơ thẩm số: 118/2019/HS-ST ngày 14/11/2019 của Tòa án nhân dân Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Trịnh Thụy Thùy T 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.Thời gian hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.

Ngoài ra, bản án còn tuyên xử về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi Tòa án xét xử sơ thẩm, đến ngày 20/11/2019 bị cáo Trịnh Thụy Thùy T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo Trịnh Thụy Thùy T khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung bản án sơ thẩm đã thể hiện, đồng thời giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: sau khi phân tích hành vi của bị cáo theo nội dung của bản án sơ thẩm, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo Trịnh Thụy Thùy T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Tuy nhiên, về mức hình phạt 02 năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc. Đại diện Viện Kiểm sát nhận thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường thiệt hại để khắc phục hậu quả của vụ án, bị cáo nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, có 02 con còn nhỏ nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm tù đến 01 năm 06 tháng tù. Đối với yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo, Đại diện Viện Kiểm sát nhận thấy, do bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “phạm tội nhiều lần” nên không có căn cứ cho bị cáo được hưởng án treo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo về việc xin giảm nhẹ hình phạt và không chấp nhận kháng cáo của bị cáo về việc xin được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 07/12/2018, Trịnh Thụy Thùy T đã lợi dụng sơ hở của nhân viên Phòng cấp phát thuốc bảo hiểm y tế Bệnh viện An Bình lén lút chiếm đoạt 01 thùng thuốc hiệu Coveram 5/10 (80 hộp), trị giá 15.813.600 đồng. Ngoài ra, từ cuối tháng 11/2018 đến trước ngày 07/12/2018 Trịnh Thụy Thùy T đã nhiều lần lén lút trộm cắp thuốc của bệnh viện An Bình đó là: 04 thùng thuốc hiệu Coveram 5/10 và Coversyl 10mg và 60 hộp thuốc Coveram 10/5. Như vậy, tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt qua định giá là 100.579.800 đồng.

Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt bị cáo Trịnh Thụy Thùy T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Ngày 14/11/2019, Tòa án xét xử sơ thẩm, đến ngày 20/11/2019 bị cáo Trịnh Thụy Thùy T làm đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo. Xét thấy, đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định nên hợp lệ nên cần chấp nhận để xét xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

[3] Xét nội dung kháng cáo:

Bị cáo Trịnh Thụy Thùy T đã nhiều lần có hành vi lén lút vào Phòng cấp phát thuốc của Bệnh Viện An Bình lấy trộm thuốc với tổng trị giá tài sản là 100.579.800 đồng. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của tổ chức được pháp luật bảo vệ, nên cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Nhưng khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét đến hành vi phạm tội, tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hoàn cảnh và nhân thân để quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Trong vụ án này, bị cáo Trịnh Thụy Thùy T có tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên và có các tình tiết giảm nhẹ là: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường thiệt hại để khắc phục hậu quả, có 02 con còn nhỏ và các tình tiết này đã được Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo để tuyên phạt bị cáo mức án là 02 năm tù.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không cung cấp tài liệu, chứng cứ nào mới để xem xét cho bị cáo. Với hành vi phạm tội, tổng trị giá tài sản chiếm đoạt, tình tiết tăng nặng và các tình tiết giảm nhẹ như đã nêu ở trên thì mức hình phạt mà cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp. Đồng thời, do bị cáo phạm tội nhiều lần nên không có cơ sở để cho bị cáo được hưởng án treo.

[4] Lập luận trên đây cũng là căn cứ để không chấp nhận lời đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 345; điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015;

Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội;

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trịnh Thụy Thùy T và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Xử phạt Trịnh Thụy Thùy T : 02 (Hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

Án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ