- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Xuân N - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và kháng cáo của bị cáo Phạm Xuân N, sửa Bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 200/2020/HS-PT Ngày: 15-09- 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tồn
Các thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Tào
Ông Nguyễn Cường
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Hoàng, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Lê Ra, Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 09 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 193/2020/TLPT-HS ngày 15-6-2020 đối với bị cáo Phạm Xuân N về tội “Giết người”. Do có kháng cáo, kháng nghị đối với bản án hình sự sơ thẩm số 14/2020/HS-ST ngày 07-5-2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
- Bị cáo có kháng cáo:
Phạm Xuân N, Sinh năm 1991, tại huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: , tỉnh Gia Lai. Nghề nghiệp: thợ sửa máy nông cơ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa Giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Xuân T và bà Bùi Thị V; bị cáo có vợ là Phạm Thị M, có 03 người con; tiền án: không, tiền sự: không. Bị cáo đầu thú ngày 22/09/2019, tạm giữ từ ngày 23/9/2019 chuyển tạm giam từ ngày 26/9/2019, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Gia Lai; có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Mạnh Hùng là Luật sư thuộc Đoàn luật sư tỉnh Gia Lai. Có mặt.
* Người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Hồng T (đã chết): Chị Võ Thị X, sinh năm 1973 (vợ bị hại). Trú tại: , tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Phạm Xuân T, sinh năm 1979. Trú tại: tỉnh Gia Lai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 2011 Phạm Xuân N kết hôn với chị Phạm Thị M (sinh năm 1993), hai vợ chồng có 03 người con chung và cùng trú tại , tỉnh Gia Lai. Hằng ngày, N làm nghề sửa chữa máy nông cơ, còn chị M ở nhà làm công việc nội trợ. Cuộc sống gia đình N thỉnh thoảng có xảy ra mâu thuẫn trong sinh hoạt.
Vào khoảng 19h00’ một ngày đầu tháng 9/2019 (không xác định chính xác ngày) tại khu vực rẫy nhà anh B thuộc , tỉnh Gia Lai. N phát hiện xe máy hiệu Honda Vision màu đen biển kiểm soát: 81S1-124.48 của vợ N và xe máy của anh Nguyễn Hồng T đang dựng ở ngoài đường nhưng không thấy người đâu nên N đứng gọi. Khoảng 05 phút sau anh thấy anh T và chị M mỗi người đi từ một hướng đến. Nghĩ anh T và chị M hẹn hò nhau nên N xông đến dùng tay tát 02 – 03 cái vào mặt chị M và đấm 02 – 03 cái vào mặt anh T rồi bỏ đi về nhà. Ba ngày sau, anh T có đến nhà gặp N nói: “Tối hôm trước gặp chị M để bàn chuyện tổ chức Tết trung thu cho các cháu, chứ không có chuyện gì”. Riêng chị M cũng không thừa nhận có tình cảm yêu đương với anh T. Tuy nhiên, N không tin lời anh T và chị M mà nghi ngờ giữa chị M và anh T có quan hệ tình cảm yêu đương với nhau.
Sau thời gian này, chị M nhiều lần xin N đi đến tỉnh Đồng Nai để làm công nhân trong khu công nghiệp. Nhưng do N biết ngày 14/09/2019, anh Nguyễn Hồng T sẽ đi đến thành phố Hồ Chí Minh để nhận quà từ thiện về phát cho nhân dân địa phương và nghĩ chị M lấy lý do đi làm có thể hẹn hò với anh T nên N không đồng ý để chị M đi. Đến ngày 17/09/2019, chị M kiên quyết đòi đi làm ở Đồng Nai, nhưng Phạm Xuân N không cho đi nên nói với vợ: “Con cái thì nhỏ, nếu muốn đi thì viết đơn ly hôn rồi đi”. Nghe N nói vậy chị M lấy giấy bút viết đơn xin ly hôn, N bực tức nên tát vào mặt chị M rồi đón xe khách đi đến tỉnh Đắk Lăk và Đắk Nông.
Phán đoán thời gian vắng nhà, anh T sẽ đến gặp M, vì vậy để đánh lạc hướng, N có đăng hình và viết trên Facebook với nội dung đang ở tỉnh Đồng Nai, đồng thời nói với chị M là ngày 23/09/2019 mới về. Nhưng sau đó N lại đón xe khách về nhà trước 02 ngày. Khi về đến địa phương, N không vào nhà mà ban ngày N đến các rẫy của người dân cách nhà mình khoảng 02km để ở, đến tối mới đi về gần nhà để nhằm mục đích phục bắt quả tang vợ quan hệ bất chính.
Đến khoảng 22h25’ ngày 22/09/2019, khi Phạm Xuân N đang ngồi ở rẫy trồng tiêu sau nhà mình, thì phát hiện chị M mở cửa phía sau nhà lấy đồ và chỉ khép cửa lại, khoảng 05 phút sau thấy anh Nguyễn Hồng T trèo qua hàng rào vào vườn nhà, đến mở cửa vào phòng bếp rồi đóng cửa lại. Phạm Xuân N đi theo sau đến gần nhìn qua cửa kính sau nhà thì thấy anh T đang đứng ôm chị M trong phòng bếp. Bực tức, N gõ cửa rồi nói: “M! Mở cửa ra, bây giờ tụi bay hết cãi chưa?”. Chị M định đến mở cửa nhưng anh T can ngăn không cho mở, thì N lấy con dao rựa ở chuồng gà gần đó đến đập bể cửa kính rồi thò tay mở cửa đi đến tát vào mặt chị M và xông đến định đánh anh T. Thấy vậy, chị M ôm N lại can ngăn, còn anh T lấy một đoạn ống tuýp sắt ở phòng bếp đánh nhưng N dùng tay gạt đỡ, nên bị đánh trúng cẳng tay trái. Bị đánh, N dùng dao chém một nhát trúng người anh T. Lúc này, chị M đứng ôm N, can ngăn không cho N chém thì anh T cầm ống tuýp sắt bỏ chạy vào trong nhà tắm trốn. N tiếp tục cầm dao mở cửa phòng tắm xông vào chém nhiều nhát vào vùng đầu, hai tay, thân người của anh T. Bị đánh, anh T cũng dùng đoạn ống tuýp sắt đánh lại N. Trong lúc đánh nhau, anh T có dùng ống tuýp sắt đánh trúng vùng đầu, hai tay của N và đánh trúng mặt chị M. Thấy đánh nhau, chị M bỏ chạy ra phía trước nhà hô hoán gọi mọi người đến cứu giúp. Anh T vùng bỏ chạy được ra phía sau vườn nhà N và bị vấp ngã xuống đất. N cầm dao chạy theo đến thì bị anh T nằm ngửa dưới đất dùng hai chân đạp chống cự, N tiếp tục dùng dao rựa chém nhiều nhát vào hai chân của anh T để anh T khỏi chạy được nữa. Khi thấy anh T nằm ngã gục, N không đánh nữa. Anh T nói với N: “Anh xin lỗi”, N trả lời: “Tao chém cho mày đi xe lăn luôn”. Nói xong, N cầm dao đi đến đống gỗ cách chỗ anh T đang nằm khoảng 1,5 mét rồi để con dao rựa xuống đất.
Sau khi dùng dao chém anh Nguyễn Hồng T, đến 23h45 ngày 22/09/2019, Phạm Xuân N đã đến Công an xã Ia Hla đầu thú. Còn anh T được mọi người đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện Chư Sê nhưng đã chết trên đường đi.
Tại Bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 585/GĐPY ngày 07/10/2019 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Gia Lai kết luận nguyên nhân chết của anh Nguyễn Hồng T là do: “Chấn thương sọ não, đa vết thương phần mềm do vật sắc”.
Tại cáo trạng số 21/CT-VKS-P2 ngày 10/02/2020, VKSND tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Phạm Xuân N về tội: “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 14/2020/HSST ngày 07/5/2020, Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai đã quyết định:
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Phạm Xuân N phạm tội “Giết người”;
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b, e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS năm 2015.
Xử phạt bị cáo Phạm Xuân N 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/9/2019.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 08 tháng 5 năm 2020, bị cáo Phạm Xuân N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 22 tháng 5 năm 2020, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng ban hành quyết định kháng nghị phúc thẩm số 16/QĐ-VC2 kháng nghị một phần bản án hình sự sơ thẩm số 14/2020/HS-ST ngày 07/5/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai đề nghị Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm vụ án theo hướng sửa một phần bản án, chuyển khung hình phạt đối với bị cáo, xét xử bị cáo Phạm Xuân N về tội “Giết người” theo khoản 2 Điều 123 BLHS năm 2015 và giảm hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng giữ nguyên quan điểm kháng nghị đề nghị HĐXX xem xét áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 357 BLTTHS sửa bản án sơ thẩm theo hướng chuyển khung hình phạt xét xử bị cáo Phạm Xuân N về tội “Giết người” theo khoản 2 Điều 123 BLHS năm 2015 và giảm hình phạt cho bị cáo.
Luật sư bào chữa cho bị cáo thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát và cho rằng hành vi của bị cáo không có tính chất côn đồ. Đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo, chấp nhận kháng nghị xét xử bị cáo theo khoản 2 Điều 123 và giảm hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
. Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo thừa nhận: Ngày 22/09/2019, khi phát hiện vợ mình là chị M và người bị hại Nguyễn Hồng T có quan hệ bất chính, bị cáo đã có hành vi dùng dao chém nhiều nhát vào vùng đầu, hai tay, thân người của anh T. Bị đánh, anh T cũng dùng đoạn ống tuýp sắt đánh lại N. Trong lúc đánh nhau, anh T có dùng ống tuýp sắt đánh trúng vùng đầu, hai tay của N và đánh trúng mặt chị M. Thấy đánh nhau, chị M bỏ chạy ra phía trước nhà hô hoán gọi mọi người đến cứu giúp. Anh T vùng bỏ chạy được ra phía sau vườn nhà N và bị vấp ngã xuống đất. N cầm dao chạy theo đến thì bị anh T nằm ngửa dưới đất dùng hai chân đạp chống cự, N tiếp tục dùng dao rựa chém nhiều nhát vào hai chân của anh T để anh T khỏi chạy được nữa. Sau khi dùng dao chém anh Nguyễn Hồng T, đến 23h45 ngày 22/09/2019, Phạm Xuân N đã đến Công an xã Ia Hla đầu thú. Còn anh T được mọi người đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện Chư Sê nhưng đã chết trên đường đi.
Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và kháng cáo của bị cáo thì thấy: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 14/2020/HSST ngày 07/5/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai đã xét xử đối với bị cáo về tội “giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 BLHS với nhận định cho rằng: “Bị cáo đã nghi ngờ mối quan hệ bất chính của vợ với bị hại nhưng không lựa chọn các phương thức giải quyết mâu thuẫn khác mà đưa ra thông tin đi làm ăn nhiều ngày nhưng thực tế bị cáo đã quay về sớm rồi núp gần nhà để rình bắt quả tang. Khi phát hiện sự việc bị cáo đã có hành vi dùng con dao rựa ở chuồng gà phá cửa vào nhà. Giữa bị cáo và anh T xảy ra đánh nhau, bị cáo dùng con dao rựa chém nhiều nhát vào vùng đầu, tay, thân người của anh T, anh T vùng chạy ra phía sau vườn bị cáo tiếp tục bị cáo tiếp tục đuổi theo chém vào chân đến khi anh T nằm gục mới dừng lại. Do đó hành vi của bị cáo đã thỏa mãn tình tiết định khung “có tính chất côn đồ” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự”. HĐXX thấy rằng: Giữa bị hại và chị M (vợ T) đã có vợ có chồng nhưng vẫn lén lút hẹn hò yêu thương ngoài vợ ngoài chồng, đây là hành vi trái đạo đức và trái quy định của pháp luật, khi phát hiện sự việc, do quá bức xúc bị cáo đã dùng dao chém nhiều nhát vào vùng hiểm yếu của người bị hại gây ra hậu quả chết người. Nguyên cớ, mâu thuẫn đã dồn nén từ lâu, bị cáo đã nghi ngờ và biết về mối quan hệ bất chính giữa vợ mình và bị hại, dù đã nhiều lần can ngăn, khuyên giải nhưng không hiệu quả. Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của bị hại gây ra. Do đó không thỏa mãn dấu hiệu của tình tiết định khung “có tính chất côn đồ” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự. Xét thấy nội dung kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng là có căn cứ.
Mặt khác, sau khi phạm tội bị cáo đã đi đầu thú và thành khẩn khai báo; tỏ ra ăn năn hối cải và tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại. Bị cáo phạm tội trong trường hợp kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của bị hại gây ra, đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, điểm e, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, HĐXX xét thấy có đủ căn cứ để áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Bị cáo phải không chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm b, c khoản 2 Điều 357 BLTTHS của Bộ luật tố tụng hình sự.
Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và kháng cáo của bị cáo Phạm Xuân N, sửa Bản án sơ thẩm.
Tuyên bố bị cáo Phạm Xuân N phạm tội “Giết người”.
Áp dụng khoản 2 Điều 123; điểm b, điểm e, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Xuân N 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 23/9/2019.
3. Bị cáo Phạm Xuân N không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - Vụ Giám đốc kiểm tra I, TAND tối cao; - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Gia Lai; - VKSND tỉnh Gia Lai; - Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh Gia Lai; - Phòng HSNV - Công an tỉnh Gia Lai; - Cơ quan CSTHAHS -Công an tỉnh Gia Lai; - Cơ quan CSTHAHS – Công an huyện Chư Pưh, Gia Lai. - Sở Tư pháp tỉnh Gia Lai; - Cục THADS tỉnh Gia Lai; - Trại tạm giam CA tỉnh Gia Lai; - Bị cáo; Người tham gia tố tụng khác; - Lưu HSVA, LT. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Phạm Tồn |