vanban.org

Bản án 200/2018/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 26/06/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/06/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Quốc D và Võ Minh Đ, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 21/2018/HSST ngày 06/4/2018 của Tòa án nhân dân huyện Ea H’leo, tỉnh Đắk Lắk về hình phạt. [2] Áp dụng khoản 1 Điều 133, điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "D và Đ cướp tài sản theo khoản 1, Điều 133 BLHS 1999 - phạm tội cướp tài sản (điều 133 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 133 Bộ luật Hình sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 200/2018/HSPT
Ngày: 26/6/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Triết.

Các thẩm phán:

Ông Trương Công Bình.

Bà Lê Thị Thanh Huyền.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Khắc Anh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Thủy- Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 158/2018/TLPT-HS ngày 14/5/2018 đối với các bị cáo Lê Quốc D và bị cáo Võ Minh Đ, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 21/2018/HSST ngày 06-4-2018 của Toà án nhân dân huyện Ea H’leo, tỉnh Đắk Lắk.

Bị cáo có kháng cáo:

1. Lê Quốc D, tên gọi khác: Tèo; sinh năm 1989; tại tỉnh Đắk Lắk;

Nơi đăng ký Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Tổ dân phố X, phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Quang Đ, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1974; Gia đình bị cáo có 4 người con, bị cáo là con thứ nhất;

Tiền án: Tại Bản án số: 270/2015/HSPT, ngày 24-6-2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xử phạt bị cáo 2 năm 6 tháng tù, về tội Cố ý gây thương tích, chấp hành xong hình phạt ngày 19-7-2017; tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 06/10/2017, chuyển tạm giam ngày 12/10/2017 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Ea H’leo.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Võ Minh Đ, tên gọi khác: Tư, Đen, Long; sinh năm 1983; tại tỉnh Đắk Lắk.

Nơi đăng ký Hộ khẩu thường trú: Thôn X, xã V, huyện N, tỉnh Khánh Hòa; nơi cư trú: Không có nơi ở nhất định; nghề nghiệp: Thợ xây; trình độ học vấn: Không đi học; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Minh T, sinh năm 1951 và bà Võ Thị H, sinh năm 1956; sống chung như vợ chồng với chị: H’L Niê, sinh năm 1986, bị cáo có 03 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 01-6-2006 bị Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 15 tháng tù, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 23-3-2007.

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 06/10/2017, chuyển tạm giam ngày 12/10/2017. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Ea H’leo.

Bị cáo có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ ngày 07/9/2017, Lê Quốc D cùng Võ Minh Đ và một người đàn ông tên C (chưa xác định được nhân thân lai lịch) ngồi uống rượu tại khu vực chợ đêm thị trấn D, huyện E. Lúc này, C thấy ông Trần Văn S đang đi bộ trên đường nên C gọi ông S vào ngồi chơi và cùng uống rượu, khoảng 20 phút sau, C lấy túi xách của ông S đi về hướng cầu E nên ông S đi theo, khi đi C vẫy tay ra hiệu cho D và Đ đi cùng, D, Đ hiểu ý đồ của C nên cùng theo sau. Khi đến khu vực Tổ dân phố V, thị trấn Ea Drăng, huyện E, thì C kéo ông S vào lề đường, rồi dùng tay bóp cổ đẩy ông S ngã xuống đất. Lúc này Đ xông vào đè lên ngực và giữ tay ông S lại, còn D dùng tay bóp cổ ông S. C lục lấy chiếc ví của ông S mở ra lấy được 6.000.000 đồng và 01 điện thoại di động còn Đ tháo 01 nhẫn vàng (nhẫn 2 chỉ vàng 9999), rồi C cầm túi xách của ông S bỏ đi. Sau đó, C, D, Đ đến tiệm vàng H ở Tổ dân phố B, thị trấn D bán chiếc nhẫn vàng được 6.300.000 đồng và chia nhau, C được 1.700.000 đồng, D 800.000 đồng, Đ 3.800.000 đồng. Đối với số tiền 6.000.000 đồng, 01 điện thoại di động và túi xách của ông S thì C giữ. Sau khi bị cướp thì ông S đi trình báo công an. Ngày 06/10/2017 thì D và Đ bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ea H’leo bắt giữ, còn đối tượng tên C bỏ trốn.

Tại Biên bản định giá tài sản số 873/BB-ĐGTS ngày 10/10/2017, của Hội đồng định giá tài sản huyện E, kết luận: 01 nhẫn 2 chỉ vàng 9999, trị giá: 7.400.000 đồng.

Trong quá trình điều tra, người bị hại ông Trần Văn S không xác định được chiếc túi xách và điện thoại di động bị cướp là loại gì nên không có căn cứ để trưng cầu định giá tài sản.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2018/HSST ngày 06-4-2018 của Toà án nhân dân huyện Ea H’leo, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:

Tuyên bố: Các bị cáo Lê Quốc D, tên gọi khác: Tèo; Võ Minh Đ, tên gọi khác: Tư, Đen, Long phạm tội “Cướp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 133; điểm p khoản 1 Điều 46; Điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999.

Xử phạt: Lê Quốc D 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 06/10/2017).

Căn cứ khoản 1 Điều 133; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999.

Xử phạt: Võ Minh Đ 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 06/10/2017).

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 09-4-2018, các bị cáo Lê Quốc D, Võ Minh Đ cùng có kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo Lê Quốc D, Võ Minh Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng và bản án hình sự sơ thẩm đã nêu.

Quá trình tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của các bị cáo và cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Lê Quốc D, Võ Minh Đ về tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 133 Bộ luật hình sự năm 1999 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Xét mức hình phạt 04 năm 06 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt đối với các bị cáo Lê Quốc D và Võ Minh Đ là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của từng bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo không cung cấp cho Hội đồng xét xử tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới nên không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sở thẩm về hình phạt. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Các bị cáo không tranh luận, bào chữa gì thêm mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên toà phúc thẩm, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở pháp lý để khẳng định vào ngày 7/9/2017 các bị cáo C (chưa rõ nhân thân lai lịch) có hành vi bóp cổ, đẩy ông S ngã xuống đất, lúc này Đ xông vào đè ông S và giữ tay ông S, D dùng tay bóp cổ ông S làm cho ông S lâm vào tình trạng không thể chống cự để C lấy 01 chiếc ví (trong đó có 01 điện thoại di động và số tiền 6.000.000 đồng), Đ lấy 01 nhẫn vàng khâu 02 chỉ, loại vàng 9999. Hậu quả ông S bị thiệt hại 13.400.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Lê Quốc D và Võ Minh Đ phạm tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 133 Bộ luật hình sự năm 1999 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Lê Quốc D, Võ Minh Đ Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: Mức hình phạt 04 năm 06 tháng tù đối với mỗi bị cáo Lê Quốc D và Võ Minh Đ mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo. Bởi lẽ, hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra là rất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo đã trực tiếp khống chế bị hại nhằm chiếm đoạt tài sản hợp pháp của bị hại. Mặt khác bị cáo Lê Quốc D đã có 01 tiền án, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục phạm tội; bị cáo Võ Minh Đ có nhân thân xấu, ngày 01/6/2006 bị Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 15 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tại Tòa án cấp phúc thẩm bị cáo không có tình thiết giảm nhẹ nào mới nên Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, cần giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm đối với các bị cáo thì mới có tác dụng cải tạo giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.

Về án phí: Do không được chấp nhận kháng cáo nên mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Quốc D và Võ Minh Đ, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 21/2018/HSST ngày 06/4/2018 của Tòa án nhân dân huyện Ea H’leo, tỉnh Đắk Lắk về hình phạt.

[2] Áp dụng khoản 1 Điều 133, điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999.

Xử phạt: Bị cáo LÊ QUỐC D 04 (bốn) năm 06 (sáu) tù về tội “Cướp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 06/10/2017.

Áp dụng khoản 1 Điều 133, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999.

Xử phạt: Bị cáo VÕ MINH Đ 04 (bốn) năm 06 (sáu) tù về tội “Cướp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 06/10/2017.

[3] Án phí: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo Lê Quốc D, Võ Minh Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ