vanban.org

Bản án 200/2018/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 14/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Kiều Văn V phạm tội “Trộm cắp Tài sản”;

Xử phạt bị cáo Kiều Văn V 9 (chín) tháng tù. Nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 6 (sáu) tháng tính kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã X, huyện M, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Kiều Văn V - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Kiều Văn V phạm tội “Trộm cắp Tài sản”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Luật Phí và lệ phí; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 200/2018/HS-ST
Ngày: 14 - 11 - 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Ngọc Hải.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Thành Viên.

Bà Lê Thị Thanh Hồng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Châu Ly – Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Ngọc Bích - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2018 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 187/2018/TLST-HS ngày 05 tháng 10 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 219/2018/QĐXXST-HS ngày 01 Tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:

Kiều Văn V, sinh năm: 1960, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: số 482/110 đường L, Phường M, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: 94/2L ấp 2 xã X, huyện M, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Thợ hồ; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Kiều Văn Mùi và bà Võ Thị Bé; có vợ Nguyễn Thị Bình, sinh năm 1965 và có 03 con lớn sinh năm 1986, nhỏ sinh năm 2014; tiền sự: không; tiền án: Không. Bị cáo tại ngoại; (Có mặt).

Bị hại: Chị Nguyễn Thị Y, sinh năm: 1984; trú tại: số 334/37 đường N, Phường B, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Kiều Văn V là nhân viên bảo vệ của nhà sách Lạc Xuân, địa chỉ số 220 Nguyễn Văn Nghi, phường 7, quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh, nhiệm vụ: bảo vệ khu vực cửa ra vào và khu vực giữ giỏ. Do Vân biết vách ngăn của ngăn tủ 26 và 29 bị hư, có thể nâng tấm ngăn giữa 02 tủ lên và có thế lấy được tài sản nên Vân nảy sinh ý định trộm cắp tài sản.

Khoảng 08 giờ 45’ ngày 08/4/2018, V thấy chị Nguyễn Thị Y cùng chồng và con đến nhà sách Lạc Xuân để mua đồ và có đem theo giỏ xách. V đưa chìa khóa ngăn tủ số 29 cho chị Y để cất tài sản. Chị Y để giỏ xách (bên trong có để 01 chiếc bóp có số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng), 600 USD (Sáu trăm đôla Mỹ) và một số nữ trang) vào ngăn tủ số 29 rồi khóa tủ và đi mua đồ. Lợi dụng không có người để ý nên V mở ngăn tủ 26, dùng 01 tay nâng tấm ngăn giữa tủ 26 và 29 rồi dùng tay còn lại thò vào, kéo giỏ xách của chị Y ra phía ngoài rồi mở giỏ xách lục tìm bên trong và lấy trộm số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), cất giấu trong túi quần. Sau đó, V để chiếc bóp vào giỏ xách rồi đóng lại như ban đầu. Đến khoảng 09 giờ 20 phút cùng ngày, chị Y ra về nên mở tủ lấy giỏ xách thì thấy giỏ xách bị dịch chuyển so với ban đầu nên kiểm tra thì phát hiện bị mất trộm số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) nên báo với ban quản lý nhà sách.

Sau khi xem lại camera phát hiện trong khoảng thời gian đó V có mặt tại nơi giữ giỏ. Tuy nhiên V không nhận đã lấy tiền của chị Y. Sau khi chị Y đi trình báo Công an phường 7, V đem tiền vào giấu dưới thùng rác trong nhà vệ sinh nhưng bị anh Bạch Văn Q nhân viên nhà sách phát hiện, thu giữ 10.000.000 đồng. Số tiền này Công an phường 7, quận Gò Vấp đã trao trả cho chị Nguyễn Thị Y. Chị Y nhận lại tiền và xin giảm nhẹ hình phạt cho V.

Tại Cơ quan điều tra Kiều Văn V đã nhận tội và khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Tại bản cáo trạng số 185/CTr-VKS, ngày 01/10/2018 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố Kiều Văn V về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát sau khi luận tội và đưa ra quan điểm xét xử đã đề nghị: Áp dụng khỏan 1 Điều 173; điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung 2017;

- Xử phạt bị cáo Kiều Văn V từ 9 tháng đến 12 tháng tù. Nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng.

- Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì Kiều Văn V đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Đối chiếu lời khai bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người bị hại, cùng với tang vật đã thu giữ, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan Công an quận Gò Vấp, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát trong quá trình Điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.

Do đó, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của Kiều Văn V đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt trừng trị được quy định tại Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung 2017.

Lợi dụng sự mất cảnh giác của bị hại, bị cáo đã thực hiện hành vi lén lút lấy trộm tài sản rất táo bạo và liều lĩnh, hành vi của bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được Pháp luật và Nhà nước bảo hộ. Mặt khác, còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội và tác động xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Chỉ vì muốn tiêu xài phục vụ cho những nhu cầu cá nhân của mình mà không phải thông qua lao động chân chính bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, việc xử lý các bị cáo bằng biện pháp hình sự là hết sức cần thiết và đúng quy định của pháp luật, cần thiết phải có mức án xử lý nghiêm khắc nhằm có tác dụng giáo dục răn đe đối với các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét cho bị cáo một số tình tiết: Tại Cơ quan điều tra và qua diễn biến phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thật thà khai báo thành khẩn nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhất thời phạm tội gia đình bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo, tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại để giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

Tại phiên tòa hôm nay Viện kiểm sát đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo có thời gian thử thách, Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, việc cho bị cáo được tại ngoại không gây nguy hiểm cho xã hội, cần tạo điều kiện cho bị cáo làm lại cuộc đời, cần thiết cho bị cáo được hưởng mức án có thời gian thử thách phù hợp với Điều 65 của Bộ luật hình sự đối với người mới phạm tội lần đầu mà biết ăn năn hối cải, phù hợp với tính nhân đạo của pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo Hội đồng xét xử quyết định miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa hôm nay bị hại chị Nguyễn Thị Y vắng mặt, nhưng qua hồ sơ thể hiện chị đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và đã bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo hiện không thắc mắc hay khiếu nại gì nên tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử không đưa ra xem xét lại.

Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền 10.000.000 đồng Cơ quan điều tra đã trả cho chị Nguyễn Thị Y Hội đồng xét xử nhận thấy việc trả lại tài sản đó là đúng quy định của pháp luật và không ảnh hưởng đến nội dung vụ án nên tại phiên tòa hôm nay không đưa ra xem xét lại.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Kiều Văn V phạm tội “Trộm cắp Tài sản”;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung 2017;

Xử phạt bị cáo Kiều Văn V 9 (chín) tháng tù. Nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 6 (sáu) tháng tính kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã X, huyện M, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

ợc hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách nếu cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Áp dụng khỏan 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí và Lệ phí, Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.

Bị cáo, có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.

Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008;

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

(Chủ tọa đã giải thích chế định án treo)

Cỡ chữ