vanban.org

Bản án 20 — Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Phạm Lê Cẩm T và anh Trần Thanh V.

Quan hệ con chung: Chị Phạm Lê Cẩm T được tiếp tục nuôi dạy hai con chung tên Trần Phạm Thảo V, sinh ngày 05/4/2009 và tên Trần Phạm Mỹ K, sinh ngày 04/11/2013. Anh Trần Thanh V không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Không bên nào được ngăn cản quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung, vì lợi ích của con, t…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Lê Cẩm T"
  • Tòa quyết gì? Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Phạm Lê Cẩm T và anh Trần Thanh V.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỊNH BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: /2018/HNGĐ-ST
Ngày: 30- 3– 2018
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỊNH BIÊN TỈNH AN GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tò a: Bà Trịnh Thị Ngọc Hà

Hội thẩm nhân dân:

1.Ông Múth So Ny

2.Ông Chau Cương

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Việt –Thư ký củaTòa án nhân dân huyện Tịnh Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên tham gia phiên tòa: ÔngPhạm Hoàng Phong- Kiểm sát viên

Ngày 30tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên xét xửsơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 289/2017/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2017 về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2017/QĐXXST – HNGĐ ngày 01/3/2018giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn:Chị Phạm Lê Cẩm T, sinh năm 1989; địa chỉ cư trú: Tổ 11, ấp K, xã K, huyện CP, tỉnh An Giang – Có mặt

2.Bị đơn:Anh Trần Văn V, sinh năm 1989; địa chỉ cư trú: Tổ 13, ấp Phú T, xã A, huyện T, tỉnh An Giang – vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 07 tháng 11 năm 2017 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn chị Phạm Lê Cẩm T trình bày:

Chị và anh Trần Thanh V được hai gia đình tổ chức lễ cưới vào đầu năm 2008, sau đó có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã An Phú huyện Tịnh Biên.Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống được khoảng 9 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh V không lo làm ăn, chăm sóc gia đình, không có trách nhiệm với vợ con mà chỉ lo ăn chơi, cờ bạc, chính vì vậy chị về gia đình cha mẹ ruột sinh sống và hai người sống ly thân từ tháng 8 năm 2017 cho đến nay. Thời gian sống ly thân vợ chồng không hề gặp gỡ hay liên lạc với nhau,xét thấy tình cảm vợ chồng không còn yêu thương nhau nữa, nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Trần Thanh V.

Chị và anh V có 02 con chung, tên Trần Phạm Thảo V, sinh ngày 05/4/2009 và Trần Phạm Mỹ K, sinh ngày 04/11/2013, từ lúc ly thân đến nay cả 02 cháu đang sống với chị T. Nay chị T yêu cầu nuôi 02 con chung, không yêu cầu anh V phải cấp dưỡng nuôi conchung.

Tài sản chung và nợ chung: Không có.

Bị đơn anh Trần Thanh V trình bày: Anh thống nhất về thời gian kết hôn và cũng như những mâu thuẩn mà chị T trình bày. Hiện nay tình cảm giữa anh và chị T không còn, nên chị T yêu cầu ly hôn với anh thì anh đồng ý.

Về con chung: Anh và chị Tú có 02 con chung Trần Phạm Thảo V, sinh ngày 05/4/2009 và tên Trần Phạm Mỹ K, sinh ngày 04/11/2013. Nay anh yêu cầu được nuôi con chung tên Trần Phạm Mỹ K, sinh ngày 04/11/2013, anh không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung.

Tại phiên tòa : Chị T vẫn giữ nguyên yêu cầu, anh V vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật:

Toà án đã xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, thụ lý đơn và tiến hành các thủ tục tố tụng, xác định đúng tư cách của các đương sự trong vụ án. Phiên toà diễn ra đúng trình tự, thủ tục thành phần Hội đồng xét xử đúng theo pháp luật quy định. Các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình tại phiên toà.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận sự thỏa thuận thuận tình ly hôn giữa chị T với anh V.

Giao con 02 con chung Trần Phạm Thảo V, sinh ngày 05/4/2009 và tên Trần Phạm Mỹ K, sinh ngày 04/11/2013 cho chị V được tiếp tục nuôi dưỡng, anh Vàng không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát.Hội đồng xét xử nhận định:

[1].Về tố tụng:

Chị Phạm Lê Cẩm T có yêu cầu xin ly hôn với anh Trần Thanh V hiện có địa chỉ cư trú và có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Tổ 13, ấp P, xã A, huyện TB, tỉnh An Giang, nên xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên, theo qui định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Anh V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần, nhưng vẫn vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt.

[2].Về nội dung

[2.1].Quan hệ hôn nhân:

Chị Phạm Lê Cẩm T và anh Trần Thanh V tự nguyện chung sống với nhau, được gia đình tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo đúng qui định của pháp luật, nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận.

Theo chị T cho rằng nguyên nhân xin ly hôn do anh V không lo chí thú làm ăn, không có trách nhiệm với vợ con mà chỉ lo ăn chơi, cờ bạc dẫn đến phát sinh mâu thuẫn với nhau, từ đó chị đã về gia đình cha mẹ ruột sống, và hai người sống ly thân từ tháng 8 năm 2017 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân giữa chị và anh V không hề có liên lạc hay gặp gỡ nhau, không tạo được cơ hội để hàn gắn đoàn tụ.

Anh V cũng thừa nhận trong cuộc sống vợ chồng cũng thường xảy ra mâu thuẩn, ít quan tâm chăm sóc vợ con. Xét thấy tình cảm giữa anh và chị T không còn, nên chị T và anh V thuận tình ly hôn, Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận trên.

[2.2]. Về con chung: Chị T và anh V có hai con chung tên Trần Phạm Thảo V, sinh ngày 05/4/2009 và tên Trần Phạm Mỹ K, sinh ngày 04/11/2013. Chị T có yêu cầu được nuôi hai con chung và không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con, còn Anh V thì xin nuôi dưỡng cháu Trần Phạm Mỹ K, sinh ngày 04/11/2013.

Xét thấy, từ lúc chị T và anh V sống ly thân thì chị đang nuôi dưỡng, chăm sóccháu Thảo V và Mỹ K, hiện tại các cháu đang đến trường, và cháu V thể hiện nguyện vọng được sống cùng với mẹ, qua xác minh về điều kiện kinh tế thì cả hai anh chị cũng đều đi làm thuê, thu nhập hàng ngày khoảng 150.000đ-200.000đ/ngày. Để đảm bảo tâm sinh lý và cuộc sống ổn định cho các cháu, nghĩ nên tiếp tục giao cháu Thảo V và Mỹ K cho chị T được nuôi dưỡnglà phù hợp quy định của pháp luật và phù hợp với nguyện vọng của cháu Thảo V.

[2.3].Quan hệ tài sản: Chị T và anh V xác định không có tài sản chung và không có khoản nợ chung.

[3].Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị T khởi kiện xin ly hôn nên phải chịu án phí theo mức án phí không giá ngạch.

Vì các lẽ trên;

QUYẾTĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 55, 81, 82, 83và Điều 84của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;điểm a khoản 1Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc Hội.

Xử:

- Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Phạm Lê Cẩm T và anh Trần Thanh V.

- Quan hệ con chung: Chị Phạm Lê Cẩm T được tiếp tục nuôi dạy hai con chung tên Trần Phạm Thảo V, sinh ngày 05/4/2009 và tên Trần Phạm Mỹ K, sinh ngày 04/11/2013. Anh Trần Thanh V không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Không bên nào được ngăn cản quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung, vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về án phí: Chị Phạm Lê Cẩm T chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: Tu/2016/0003898, ngày 15/11/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tịnh Biên, chị T đã nộp xong án phí.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ