vanban.org

Bản án 20/2026/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu N (tên gọi khác: Không) phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu N (tên gọi khác: Không) 30.000.000đồng (Ba mươi triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu N - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu N (tên gọi khác: Không) phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3-ĐỒNG THÁP
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:20/2026/HSST
Ngày:03-02-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3-ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Quyên

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Nghĩa

Ông Tạ Công Minh

- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Trương Tấn Thành-Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân khu vực 3-Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3-Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Huy- Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 02 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3-Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 90/2025/TLST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2026/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Hữu N (Tên khác: không), sinh ngày 01/01/1978; tại tỉnh Đồng Tháp. Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ H, ấp T, xã L, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm vườn; Trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Số CCCD: 082078034669; Con ông Nguyễn Hữu L (chết) và bà Huỳnh Thị T (chết); Bị cáo có vợ tên Lê Thị Thu B, nghề nghiệp: nội trợ; bị cáo có 01 người con sinh năm 2001, Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/10/2025 đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Võ Thị Ngọc H, Luật sư thuộc Văn phòng L1, Đoàn Luật sư tỉnh Đ (có mặt).

- Bị hại: Anh Nguyễn Thanh H1, sinh năm 1989; (vắng mặt)

Nơi cư trú: 825/10 ấp B, xã C, tỉnh Vĩnh Long.

- Người làm chứng:

1/ Anh Phan Thế B1, sinh năm 1992;

Địa chỉ: Số D Khóm B, xã C, tỉnh Vĩnh Long.

2/ Anh Trần Đình B2, sinh năm 1992;

Địa chỉ: ấp B, xã C, tỉnh Vĩnh Long.

3/ Chị Phan Thanh V, sinh năm 1996;

Địa chỉ: Khu phố Đ, Phường L, Thành phố Hồ Chí Minh.

4/ Anh Nguyễn Đinh B3, sinh năm 1992;

Địa chỉ: ấp C, xã P, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ 05 phút ngày 31/8/2025, Nguyễn Hữu N đang ở nhà tại ấp T, xã L, tỉnh Đồng Tháp, lúc này anh Nguyễn Thanh H1 điều khiển xe ô tô con, nhãn hiệu Honda City màu trắng, biển số 71A-088.84 chở 04 hành khách gồm: Phan Thế B1, Trần Đình B2, Nguyễn Đinh B3, và Phan Thanh V, lưu thông trên Tỉnh lộ 870 hướng Ngã tư Đ đi cầu Rạch M. Khi đến trước phần đất trống của N tại ấp T, xã L thì H1 dừng xe ô tô để H1 cùng Trần Đình B2, Phan Thế B1 đi vệ sinh, cho rằng nhóm hành khách đi vệ sinh trên phần đất của mình dù có biển cấm nên N bực tức lấy 01 con dao dài 37cm cán bằng gỗ tròn dài 12cm, lưỡi dao bằng kim loại màu đen dài 25cm đi ra gặp H1 dẫn đến cự cãi. N cầm dao đi đến bên phải xe ô tô 71A-088.84, dùng dao chặt 03 cái làm xe móp boang tang phải, rạn nứt toàn bộ kính chắn gió phía sau. Sau đó, N bỏ đi vào nhà, anh H1 đến Công an xã L trình báo sự việc.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 2316/KL-HĐĐGTS ngày 17/9/2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự tỉnh Đồng Tháp, kết luận: Tổng giá trị thiệt hại của xe ô tô nhãn hiệu Honda City màu trắng biển số 71A-088.84, số khung: 6668KY921808, số máy: L15Z12352608 bị hư hỏng kính hậu và boang tang phải, tại thời điểm ngày 31/8/2025 là 9.325.880 (Chín triệu ba trăm hai mươi lăm nghìn tám trăm tám mươi) đồng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, Nguyễn Hữu N đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, có thái độ ăn năn, hối cải; Sau khi phạm tội đã bồi thường thiệt hại cho bị hại xong; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Vật chứng thu giữ:

- 01 xe ô tô nhãn hiệu Honda City màu trắng, biển số 71A-088.84 (bị hư hỏng một phần) và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 01943 mang tên Nguyễn Thanh H1. Qua xác minh, xe ô tô trên do anh H1 đứng tên chủ sở hữu hợp pháp nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã trao trả xe và giấy tờ xe cho anh H1 xong.

- 01 con dao dài 37cm, phần lưỡi bằng kim loại dài 25cm, phần cán bằng gỗ hình trụ tròn dài 12cm. Sau khi hoàn tất hồ sơ truy tố, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, tỉnh Đồng Tháp chuyển vật chứng trên đến Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3, tỉnh Đồng Tháp tiếp tục tạm giữ, chờ xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Hữu N đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho anh Nguyễn Thanh H1 số tiền 22.000.000 đồng, anh H1 đã nhận đủ tiền, không yêu cầu gì khác.

Bản cáo trạng số 42/CT-VKSKV3 ngày 30 tháng 12 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3-Đồng Tháp đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu N về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu N phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Căn cứ: Khoản 1 Điều 178; Điều 32; Điều 35; Điều 50; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đề nghị: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu N từ 30 triệu đồng đến 40 triệu đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, đã nhận tiền bồi thường thiệt hại và không có yêu cầu gì khác nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị:

- Tịch thu tiêu huỷ: 01 con dao dài 37cm, phần lưỡi bằng kim loại dài 25cm, phần cán bằng gỗ hình trụ tròn dài 12cm.

Luật sư H- bào chữa cho bị cáo: thống nhất với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3-Đồng Tháp truy tố bị cáo về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ đã thể hiện. Bị cáo đã bồi thường cho bị hại 22.000.000đồng, bị cáo có nhân thân tốt, bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đang thờ cúng liệt sĩ, bị hại có đơn bãi nại nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đề nghị Hội đồng áp dụng mức hình phạt thấp nhất cho bị cáo.

Bị cáo tự bào chữa: Bị cáo thống nhất lời bào chữa của người bào chữa, bị cáo không bào chữa, không tranh luận gì thêm.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo nhận thấy mình có lỗi, biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo hứa sẽ không tái phạm và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, áp dụng mức hình phạt thấp nhất cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

1 Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng:

Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3-Đồng Tháp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị hại, người làm chứng vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy việc vắng mặt bị hại, người làm chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử và vẫn đảm bảo quyền lợi hợp pháp của họ. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 292, Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt bị hại và người làm chứng.

2 Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo xác định: Vào khoảng 00 giờ 05 phút ngày 31/8/2025, tại Tỉnh lộ 870 đoạn thuộc ấp T, xã L, tỉnh Đồng Tháp, Nguyễn Hữu N có hành vi dùng 01 con dao dài 37cm, chém vào xe ô tô nhãn hiệu Honda City màu trắng biển số 71A-088.84 của anh Nguyễn Thanh H1 gây hư hỏng. Tổng giá trị tài sản thiệt hại trị giá là 9.325.880 (Chín triệu ba trăm hai mươi lăm nghìn tám trăm tám mươi) đồng.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng được thu giữ và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3 Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được việc làm hư hỏng tài sản của người khác là phạm tội nhưng vẫn cố ý thực hiện, làm mất an ninh trật tự xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại có đơn xin bãi nại, bị cáo đang thờ cúng liệt sĩ, sau khi phạm tội bị cáo đã bồi thường thiệt hại nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xét hỏi tại phiên tòa Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo ít nghiêm trọng, bị cáo có nhân thân tốt, có khả năng tự cải tạo, bị cáo có đủ điều kiện về kinh tế để thi hành án hình phạt tiền theo quy định tại Điều 35 của Bộ luật Hình sự. Do vậy cần phạt tiền đối với bị cáo để nộp ngân sách Nhà nước vẫn đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

4 Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã được bồi thường thiệt hại, không yêu cầu gì thêm, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

5 Về xử lý vật chứng:

Vật chứng, đồ vật được tạm giữ, xử lý như sau:

Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- 01 con dao dài 37cm, phần lưỡi bằng kim loại dài 25cm, phần cán bằng gỗ hình trụ tròn dài 12cm là công cụ phạm tội nên cần tịch thu tiêu huỷ.

6 Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Xét ý kiến của người bào chữa cho bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Xét ý kiến đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu N (tên gọi khác: Không) phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

1. Về hình phạt:

Căn cứ:

- Khoản 1 Điều 178; Điều 32; Điều 35; Điều 50; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu N (tên gọi khác: Không) 30.000.000đồng (Ba mươi triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu huỷ: 01 (Một) con dao dài 37cm, phần lưỡi bằng kim loại dài 25cm, phần cán bằng gỗ hình trụ tròn dài 12cm.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 02/02/2026 của Phòng Thi hành dân sự khu vực 3-Đồng Tháp)

3. Về án phí: Căn cứ: khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Hữu N phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ