- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn Hòa - Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ su…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2026/HS-ST Ngày: 22-01-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sô.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Thảo;
2. Ông Đoàn Văn Lước.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lềnh Khâm Vĩ, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trọng - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 01 năm 2026, tại Trụ sở, Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 135/2025/TLST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 132/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2026/QĐHPTST-HS, ngày 08/01/2026, đối với bị cáo:
Lê Văn H, sinh năm 1990, tại tỉnh S (Nay là thành phố C); Căn cước công dân số 094….; thường trú: Ấp M, xã L, huyện M, tỉnh S (Nay là xã L, thành phố C). Chỗ ở trước khi bị bắt: Số 208, đường 33, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bg (Nay là xã B, Thành phố H); Nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 05/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lê Hoàng A, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị U, sinh năm 1965; vợ là Nguyễn Thị Huỳnh G (đã ly hôn); có 01 con là Lê Nguyễn Duy Th, sinh năm 2018.
Tiền án; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/8/2024 cho đến nay. Có mặt.
Bị hại: Ông Thạch Thanh T, sinh năm 1992. Thường trú: Ấp B, xã K, huyện Kế Sách, tỉnh S (Nay là xã K, thành phố C). Chỗ ở hiện nay: Xã T, huyện B, tỉnh B (Nay là xã B, Thành phố H).
Ông T có đơn xin vắng mặt.
Người làm chứng:
1. Ông Lâm Minh Kh; vắng mặt.
2. Bà Lâm Thị Vàng N; vắng mặt.
3. Bà Lâm Thị Ngọc Th; vắng mặt.
4. Ông Trần Nghi Th; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Văn H và Thạch Thanh T, cùng tạm trú tại nhà trọ Lê Thị M thuộc khu phố Tân Long, phường Tân Hiệp, Thành phố Hồ Chí Minh.
Khoảng 22 giờ, ngày 09/6/2019, H đang ở phòng trọ số 04 thì nghe tiếng nổ của pô xe rất lớn chạy ngang qua phòng trọ của H, bức xúc H mở cửa phòng ra thì thấy ông Lâm Minh Kh, đang điều khiển xe chạy vào trong dãy trọ. H lớn tiếng chửi ông Kh, nên người thân của ông Kh là bà Lâm Thị Ngọc Th; bà Lâm Thị Vàng N và ông Thạch Thanh T cùng đi qua để nói chuyện với H. Khi đến phòng trọ của H, ông Kh đi vào trong để đánh H thì được ông T đứng trước cửa phòng trọ dùng tay ôm và đẩy ông Kh ra. H tức giận lấy 01 cây gậy gỗ tròn dài khoảng 40cm ở kệ nấu ăn, đi lại vị trí của ông Kh và đánh chéo 01 cái về hướng của ông Kh. Do ông T đang ôm và đẩy ông Kh ra nên bị H đánh trúng vào đỉnh đầu bên phải, gây thương tích cho ông T. Sau đó, H đi vào phòng trọ, còn ông T được ông Trần Nghi Th, đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Chợ Rẫy, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đến ngày 11/6/2019, bà Thạch Thị Thơ M là mẹ ruột của ông T, Công an phường Tân Hiệp, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương nộp đơn yêu cầu giám định thương tích cho Tòng và đơn yêu cầu khởi tố vụ án. Công an phường Tân Hiệp, lập hồ sơ ban đầu và tạm giữ 01 khúc gỗ rồi chuyển hồ sơ và vật chứng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương (Nay là Công an thành phố Hồ Chí Minh) giải quyết theo thẩm quyền.
Tại bản kết luận giám định số 0472/KLTTCT-TTPYĐN ngày 06/06/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Nai, kết luận: Thạch Thanh T bị nứt sọ đỉnh phải dài 03cm, điện não đồ không có ổ tổn thương tương ứng, tỷ lệ thương tích 11%. Khuyết sọ bán cầu phải kích thước 6,4x7,6cm; đáy chắc, tỷ lệ thương tích 26%. Tụ máu ngoài màng cứng đã điều trị hiện không để lại di chứng thần kinh, tỷ lệ thương tích 21%. Tổn thương não vùng trán phải kích thước 0,7x1,1 cm, tỷ lệ thương tích 31%. Tổng tỷ lệ thương tích là: 64% (Sáu mươi bốn phần trăm).
Kết luận giám định số 053.02 ngày 21/6/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Nai kết luận giám định cơ chế gây ra tổn thương và không cấp cứu kịp thời có dẫn đến tử vong hay không như sau: Các tổn thương của nạn nhân Thạch Thanh T thuộc loại cấp cứu có trì hoãn nếu không được cấp cứu kịp thời thì ngay lập tức không gây tử vong. Tuy nhiên, nếu không điều trị phẫu thuật có thể ảnh hưởng đến tính mạng nạn nhân.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị cáo Lê Văn Hoà đã thỏa thuận bồi thường cho bị hại Thạch Thanh T số tiền 65.000.000 đồng, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại Bản Cáo trạng số 92/CT-VKS ngày 18 tháng 11 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lê Văn H về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định điểm d khoản 4 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản Cáo trạng số 92/CT-VKS ngày 18 tháng 11 năm 2025, của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh. Bị cáo xác định do nóng giận nhất thời, thiếu kiềm chế nên có dùng khúc gỗ quơ đại và trúng vào vùng đầu của bị hại gây thương tích như nội dung kết luận giám định. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo không có ý kiến khiếu nại hay thắc mắc đối với hành vi tiến hành tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên nội dung quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung là “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61 % trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự”, đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 07 (Bảy) đến 08 (Tám) năm tù. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng và án phí hình sự sơ thẩm.
Phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận, thống nhất với nội dung luận tội, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị.
Lời nói sau cùng bị cáo trình bày rất ăn năn, hối hận đối với hành vi phạm tội của mình, bị cáo gửi lời xin lỗi đến gia đình bị hại, mong được tha thứ và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi và quyết định tố tụng:
[1.1] Các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến thắc mắc hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng nên các hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là đúng quy định của pháp luật.
[1.2] Tuy nhiên, vụ án xảy ra ngày 09/6/2019, bị hại có đơn yêu cầu giám định thương tích và yêu cầu khởi tố vụ án. Cơ quan điều tra đã ra quyết định trưng cầu giám định thương tích cho bị hại, sau đó tạm đình chỉ do chưa tìm được bị hại với lý do bị hại đã bỏ đi khỏi nơi cư trú là có thiếu sót. Trường hợp này cơ quan điều tra phải sử dụng hồ sơ bệnh án của bị hại, cùng các chứng cứ khác để thực hiện giám định và căn cứ kết quả giám định để xem xét có khởi tố vụ, khởi tố bị cán hay không. Tuy nhiên, cơ quan điều tra tạm đình chỉ đến năm 2024, mới tiến hành thu thập hồ sơ thương tích của bị hại để giám định thương tích và khởi tố vụ án, khởi tố bị can là quá lâu, (hơn 5 năm) làm cho hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo không được đưa ra xử lý kịp thời nên cần phải rút kinh nghiệm.
[2] Về xác định hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 22 giờ, ngày 09/6/2019, tại phòng trọ số 04, nhà trọ Lê Thị M thuộc khu phố Tân Long, phường Tân Hiệp, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương (Nay là khu phố Tân Long, phường Tân Hiệp, thành phố Hồ Chí Minh), bị cáo Lê Văn H đã thực hiện hành vi dùng 01 khúc gỗ hình trụ tròn, màu nâu có 01 đầu to, 01 đầu nhỏ, chiều dài 41cm (là hung khí nguy hiểm) đánh trúng vào vùng đầu của bị hại Thạch Thanh T gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 64% (Sáu mươi bốn phần trăm). Như vậy, hành vi của bị cáo Lê Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm d khoản 4 Điều 134 Bộ luật hình sự, có mức hình phạt từ 07 đến 14 năm tù.
[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:
Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ việc dùng hung khí nguy hiểm là khúc gỗ đánh bị hại để nhằm mục đích giải quyết mâu thuẫn nhỏ hàng ngày là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm sức khỏe của con người được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất tự trị an tại địa phương. Mặt dù, giữa bị cáo và bị hại có mâu thuẫn nhỏ nhưng sự việc có thể hòa giải để kết thúc nhưng bị cáo không chọn cách hòa giải mà dùng đến bạo lực, dùng hung khí nguy hiểm đánh và gây thương tích cho bị hại với tỷ lệ thương tích là 64%, nên cần phải xử lý nghiêm bị cáo để răn đe giáo dục.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã khắc phục hậu quả thiệt hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, b khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[6] Về hình phạt: Như đã phân tích, mặt dù bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhưng tội phạm bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo còn có thể ảnh hưởng đến tính mạng của bị hại. Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo với xã hội nhằm tạo điều kiện cho bị cáo có đủ thời gian tự học tập cải tạo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt có xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng, cũng như sự việc xảy ra đã quá lâu, mâu thuẫn đã được hòa giải, đến nay cuộc sống của hai bên cũng đã đã ổn định, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt và bị cáo có nhân thân tốt, để giảm một phần hình phạt cho bị cáo yên tập tập trung học tập cải tạo và sớm quay về hòa nhập cộng đồng.
[8] Như vậy, Bản cáo trạng số 92/CT-VKS ngày 18 tháng 11 năm 2025, của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh và lời luận tội của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị tội danh và mức hình phạt đối với các bị cáo là phù hợp quy định pháp luật phù hợp quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[9] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 khúc gỗ hình trụ tròn, màu nâu có 01 đầu to, 01 đầu nhỏ, chiều dài 41cm là công cụ bị cáo H dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.
[10] Về bồi thường dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo và bị hại đã giải quyết xong nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[11] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
1. Về hình phạt:
Căn cứ điểm d khoản 4 Điều 134; điểm s; b khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn H 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/8/2024.
2. Về bồi thường dân sự: Đã giải quyết xong
3. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 khúc gỗ hình trụ tròn, màu nâu có 01 đầu to, 01 đầu nhỏ, chiều dài 41cm.
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/01/2026, giữa Phòng Thi hành án dân sự khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Về án phí sơ thẩm:
Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lê Văn H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai./.
| Nơi nhận: - TAND Tp. Hồ Chí Minh; - VKSND Tp. Hồ Chí Minh; - CQCSĐT Công an Tp. Hồ Chí Minh; - PV06 - Công an Tp. Hồ Chí Minh; - THADS Tp. Hồ Chí Minh; - VKSND kv 17 - Thành phố Hồ Chí Minh; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu: HS, THAHS, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Sô |