vanban.org

Bản án 20/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Mỹ N được ly hôn với anh Nguyễn Chí T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Mỹ N"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9 – GIA LAI
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2026/HNGĐ - ST
Ngày: 25/3/2026
“V/v Tranh chấp ly hôn và nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hòa.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Trường

Bà Hoàng Thị Bình.

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Thuận - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 9 - Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Diệp - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2026, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân vực 9 - Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án HNGĐ thụ lý số: 109/2025/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 10 năm 2025 về việc“Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2026/QĐXXST- HNGĐ ngày 05 tháng 02 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 14/2026/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Mỹ N, sinh ngày 16/11/1996;

Số CCCD: xxxxxxxxxxxx.

Địa chỉ: Thôn B, xã I, tỉnh Gia Lai. Có mặt

- Bị đơn: Anh Nguyễn Chí T, sinh ngày 21/9/1995;

Số CCCD: xxxxxxxxxxxx.

Địa chỉ: Thôn B, xã I, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 10/10/2025, bản tự khai, tài liệu có tại hồ sơ và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn chị Trần Thị Mỹ N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Mỹ N và anh Nguyễn Chí T đã xác lập quan hệ hôn nhân với nhau, có đăng ký kết hôn ngày 06/3/2017 tại Ủy ban nhân dân xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống bình thường. Tuy nhiên, từ năm 2019 đến năm 2020 vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng mâu thuẫn về tiền bạc, vợ chồng không có tiền trả nợ, anh T nói bố mẹ vợ trả nợ, bố mẹ vợ không trả thì anh T lấy dao đuổi đánh, Công an phải đến can ngăn. Từ đó anh T về nhà bố mẹ đẻ ở, chị và anh T sống ly thân từ đó cho đến nay, vợ chồng không còn quan tâm gì đến nhau. Nay chị xét thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy chị làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Chí T.

Về con chung: Chị Trần Thị Mỹ N và anh Nguyễn Chí T có 02 con chung là Nguyễn Trần Thuyên K, sinh ngày 09/12/2016 và Nguyễn Trần Khả H, sinh ngày 15/02/2023.

Ly hôn chị N có nguyện vọng được nuôi trực tiếp con chung là Nguyễn Trần Thuyên K, chị đồng ý để anh T nuôi trực tiếp con chung là Nguyễn Trần Khả H.

Về cấp dưỡng nuôi con: Không ai phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho ai.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Chị N không yêu cầu giải quyết.

Ngoài ra, Chị N không có yêu cầu gì thêm.

Đối với bị đơn là anh Nguyễn Chí T: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng anh T không đến Tòa án làm việc. Do đó, Tòa án không lấy được ý kiến của anh T đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn là đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, do đó Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 27 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Chị Trần Thị Mỹ N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 9 – Gia Lai theo quy định khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tống tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy rằng:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Mỹ N và anh Nguyễn Chí T tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 19 do Ủy ban nhân dân xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai (nay là xã I, tỉnh Gia Lai) cấp ngày 06/3/2017. Nên hôn nhân giữa chị Trần Thị Mỹ N và anh Nguyễn Chí T là hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng.

Trong quá trình chung sống, chị N cho rằng nguyên nhân dẫn đến ly hôn là do vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, từ năm 2019 đến năm 2020 vợ chồng mâu thuẫn về tiền bạc, vì không có tiền trả nợ, nên anh T nói bố mẹ vợ trả nợ, bố mẹ vợ không trả thì anh T lấy dao đuổi đánh, Công an phải đến can ngăn. Từ đó anh T về nhà bố mẹ đẻ ở, chị và anh T sống ly thân từ đó cho đến nay, vợ chồng không còn quan tâm gì đến nhau. Nay chị xét thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy chị làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.

Quá trình thụ lý giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng và quyết định đưa vụ án ra xét xử hợp lệ, nhưng anh Nguyễn Chí T không lên Tòa án làm việc và không có ý kiến gửi cho Tòa án cho thấy anh T đã từ bỏ quyền lợi của mình, không muốn hàn gắn tình cảm với chị N. Và chính quyền địa phương cũng xác nhận từ đầu năm 2023 đến nay chị N và anh T đã sống ly thân. Từ những cơ sở đó, Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân giữa chị N và anh T đã thật sự lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của chị N là có cơ sở chấp nhận, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, phù hợp với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9, Gia Lai.

- Về con chung: Chị Trần Thị Mỹ N và anh Nguyễn Chí T có 02 con chung là Nguyễn Trần Thuyên K, sinh ngày 09/12/2016 và Nguyễn Trần Khả H, sinh ngày 15/02/2023.

Ly hôn chị N có nguyện vọng được nuôi trực tiếp con chung là Nguyễn Trần Thuyên K, chị đồng ý để anh T nuôi trực tiếp con chung là Nguyễn Trần Khả H.

Tại bản tự khai của cháu Nguyễn Trần Thuyên K trình bày: Bố mẹ cháu ly hôn thì cháu có nguyện vọng được ở với mẹ.

Xét yêu cầu của chị N và nguyện vọng của cháu Nguyễn Trần Thuyên K thấy rằng: Hiện tại chị N là người trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Trần Thuyên K, còn anh T là người nuôi trực tiếp cháu Nguyễn Trần Khả H và chính quyền địa phương cũng xác nhận, từ khi chị N và anh T sống ly thân thì chị N nuôi trực tiếp cháu Nguyễn Trần Thuyên K, còn anh T là người nuôi trực tiếp cháu Nguyễn Trần Khả H, anh chị vẫn đảm bảo cho sự phát triển bình thường về mọi mặt của con. Mặt khác, quá trình giải quyết vụ án anh T không lên Tòa án làm việc, không trình bày ý kiến của mình. Do đó, căn cứ vào Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét chấp nhận yêu cầu của chị N.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N và anh T mỗi người nuôi một con, nên không ai phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho ai.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung khác: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 của Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì chị Trần Thị Mỹ N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Các Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Mỹ N được ly hôn với anh Nguyễn Chí T.

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Trần Thuyên K, sinh ngày 09/12/2016 cho chị Trần Thị Mỹ N trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng và giao cháu Nguyễn Trần Khả H, sinh ngày 15/02/2023 cho anh Nguyễn Chí T trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi các con thành niên có khả năng lao động hoặc đã thành niên nhưng không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Trần Thị Mỹ N và anh Nguyễn Chí T không ai phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho ai.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một bên hoặc cả hai bên, các bên có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.

- Về án phí: Buộc chị Trần Thị Mỹ N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng chị N đã nộp tạm ứng án phí trước đây theo biên lai thu án phí, lệ phí Tòa án số: 0004196 ngày 24 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”./.

Cỡ chữ