vanban.org

Bản án 20/2025/HSST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 1 - An Giang , tỉnh An Giang Tuyên án 29/07/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Võ Thiện T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Võ Thiện T – 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính kể từ ngày bị cáo vào chấp hành án.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Thiện T - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Võ Thiện T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2025/HSST.
Ngày: 29/7/2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Phương Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà: Trần Lệ Nga.

2. Bà: Hà Thị Thủy.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Hạnh – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 1- An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1- An Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Thiệt – Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1, tỉnh An Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 162/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Võ Thiện T, sinh ngày 09/11/1992; Giới tính: Nam; Nơi ĐKTT và chỗ ở: Số 62 đường Mai Thị Hồng Hạnh, phường Rạch Sỏi, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang (nay là số 62 đường Mai Thị Hồng Hạnh, phường Rạch Giá, tỉnh An Giang); Quốc tịch: Việt Nam; Dân Tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 9/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Con ông: Võ Văn H và bà Nguyễn Thị Thùy T; Vợ: Phạm Thị T, sinh năm 1993 (đã ly hôn); Con: 01 người, sinh năm 2017. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại.

- Nhân thân: Ngày 17/5/2010, bị Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xử phạt 01 năm tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Ngày 14/6/2011, chấp hành xong (không có án tích do là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng).

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

* Người bị hại: Ông Nguyễn Hoàng H, sinh ngày 19/4/2005. (Có mặt)

Địa chỉ: Số 60B/2 đường Mai Thị Hồng Hạnh, phường Rạch Sỏi, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang (nay là số 60/2 đường Mai Thị Hồng Hạnh, phường Rạch Giá, tỉnh An Giang).

* Người làm chứng: Ông Quan Văn P, sinh năm: 2007. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Nhà cho thuê Út Liêm, đường Nguyễn Thiện Thuật, phường Rạch Sỏi, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang (nay là đường Nguyễn Thiện Thuật, phường Rạch Giá, tỉnh An Giang).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ ngày 31/12/2024, Nguyễn Hoàng H chở Quang Văn P đi đến hẻm 60, đường Mai Thị Hồng Hạnh, phường Rạch Sỏi để làm công việc. Tại đây, do có mâu thuẫn từ trước giữa H và Võ Thiện T nên khi H đi ngang địa chỉ số 60B, đường Mai Thị Hồng Hạnh, phường Rạch Sỏi thì hai bên có cự cải, lớn tiếng qua lại với nhau. Lúc này, T từ trong nhà đi ra trên tay cầm 01 thanh kim loại màu trắng dài 49,5cm xông đến đánh nhiều cái trúng vào hai tay và vùng đầu của H làm vỡ nón bảo hiểm. Lúc này H tháo nón bảo hiểm ra đánh lại T nhưng không gây thương tích cho T. Sau đó T tiếp tục dùng thanh kim loại trên đánh trúng vào vùng đầu của H làm chảy máu, thấy vậy T dừng lại và cầm hung khí bỏ đi vào nhà còn H đến Công an phường Rạch Sỏi trình báo. Ngày 02/01/2025, H làm đơn yêu cầu giám định thương tích và khởi tố vụ án đối với hành vi của Võ Thiện T. Ngày 07/3/2025 Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Võ Thiện T về tội Cố ý gây thương tích để điều tra.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Võ Thiện T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung vụ án đã nêu trên.

* Vật chứng thu giữ trong vụ án:

- 01 (một) đoạn thanh kim loại, màu trắng, hình hộp vuông, dài 48,5cm, đã qua sử dụng.

- 01 nón bảo hiểm dạng lưỡi chai màu trắng sữa, viền màu hồng bị hư hỏng nặng.

- 01 đĩa DVD bên trong có chứa 02 đoạn video ghi hình diễn biến vụ việc tại số 60B, đường Mai Thị Hồng Hạnh, phường Rạch Sỏi, lưu kèm hồ sơ vụ án.

* Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 49/KLTTCT-PY ngày 14/02/2025 của Trung tâm pháp y Kiên Giang kết luận thương tích của Nguyễn Hoàng H như sau:

1. Các kết quả chính:

- Kết quả khám giám định:

+ Sẹo phần mềm vùng đầu (trán) và khuỷu tay trái.

+ Chấn thương phần mềm vùng cẳng tay trái và cổ tay phải đã được điều trị ổn, hiện không thấy dấu vết thương tích do đả thương.

- Kết luận cận lâm sàng: Không thấy hình ảnh bất thường.

2. Kết luận:

2.1. Căn cứ T tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Hoàng H tại thời điểm giám định là 07% (hai mươi phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại T tư.

2.2. Vật gây thương tích:

- Thương tích vùng đầu (trán) và khuỷu tay trái do vật tày có cạnh gây nên.

- Thương tích vùng cẳng tay trái và cổ tay phải do vật tày gây nên.

* Tại Bản kết luận giám định vật gây thương tích số 25/KLVGTT-PY ngày 14/02/2025 của Trung tâm pháp y Kiên Giang kết luận:

1. Các kết quả chính:

- Mẫu vật (đoạn thanh kim loại) gửi giám định là dạng vật tày; vừa là dạng vật tày có cạnh.

- Thương tích vùng đầu (trán) và khuỷu tay trái do vật tày có cạnh gây nên.

- Thương tích vùng cẳng tay trái và cổ tay phải do vật tày gây nên.

2. Kết luận:

Căn cứ kết quả giám định vật gây thương tích được cơ quan trưng cầu giám định gửi đến, xác định: Mẫu vật (đoạn thanh kim loại) gửi giám định có đặc tính giống với đặc tính vật gây thương tích ở vùng đầu (trán), khuỷu tay trái, cẳng tay trái và cổ tay phải của Nguyễn Hoàng H nên có thể gây ra được thương tích cho Nguyễn Hoàng H.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về các kết luận giám định nêu trên.

Bản cáo trạng số 191/CT-VKSRG ngày 06/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1- An Giang truy tố bị cáo Võ Thiện T về tội “Cố ý gây thương tích”, theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1- An Giang vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích và đánh giá mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1- An Giang đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Võ Thiện T – mức án từ 09 tháng tháng đến 12 tháng tù.

* Về phần dân sự: Người bị hại Nguyễn Hoàng H yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 200.000.000 đồng. Bị cáo Võ Thiện T đã khắc phục, bồi thường cho bị hại được số tiền 30.000.000 đồng.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) đoạn thanh kim loại, màu trắng, hình hộp vuông, dài 48,5cm, đã qua sử dụng.

- 01 (một) nón bảo hiểm dạng lưỡi trai màu trắng sữa, viền màu hồng bị hư hỏng nặng.

Tại phiên tòa, người bị hại Nguyễn Hoàng H có ý kiến yêu cầu bị cáo Võ Thiện T khắc phục bồi thường số tiền là 130.000.000 đồng (Một trăm ba mươi triệu đồng), bị hại đã nhận được số tiền bồi thường của bị cáo là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng), yêu cầu bị cáo T tiếp tục bồi thường số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) còn lại (bao gồm các khoản như sau: Tiền tổn thất tinh thần 50.000.000 đồng, tiền mất thu nhập 20.000.000 đồng, tiền điều trị di chứng phát sinh sau này 30.000.000 đồng). Về trách nhiệm hình sự, yêu cầu xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi nghe Kiểm sát viên luận tội, bị cáo đồng ý với quan điểm truy tố và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo. Tại phần nói lời sau cùng, bị cáo đã nhận thức rõ hành vi sai trái của mình và ăn năn hối hận, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Khu vực 1- An Giang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1- An Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với nội dung Cáo trạng, kết luận điều tra và lời khai của những người tham gia tố tụng khác, cùng các chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ. Từ đó có đủ cơ sở kết luận:

Giữa Võ Thiện T và Nguyễn Hoàng H có mâu thuẫn với nhau trước. Vào khoảng 20 giờ ngày 31/12/2024, H đi ngang địa chỉ số 60B đường Mai Thị Hồng Hạnh, phường Rạch Sỏi thì tiếp tục xảy ra cự cải với T. Lúc này, T từ trong nhà đi ra trên tay cầm 01 thanh kim loại màu trắng dài 49,5cm xông đến đánh nhiều cái trúng vào hai tay và vùng đầu của H làm vỡ nón bảo hiểm H đang đội. Sau đó T tiếp tục dùng thanh kim loại trên đánh trúng vào vùng đầu của H gây thương tích qua giám định là 07%.

Hành vi của bị cáo Võ Thiện T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1- An Giang đã truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như đã viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét về tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo thực hiện tội phạm có ý thức và với lỗi cố ý. Bản thân bị cáo nhận thức được rằng sức khỏe của con người là vốn quý, luôn được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, bất kỳ ai có hành vi xâm phạm trái phép đều bị xử lý nghiêm minh, nhưng bị cáo vẫn dùng hung khí là 01 thanh kim loại hành hung và gây thương tích cho người bị hại Nguyễn Hoàng H. Hậu quả từ hành vi của bị cáo là làm tổn hại đến sức khỏe của anh Nguyễn Hoàng H một cách trái pháp luật là 07%.

Hành động phạm tội của bị cáo thể hiện sự hung hăng và xem thường pháp luật, gây dư luận xôn xao và bất bình trong quần chúng nhân dân, làm tăng thêm sự phức tạp về tình hình trật tự trị an địa phương. Mặt khác còn xâm phạm đến thân thể, sức khỏe của bị hại Nguyễn Hoàng H một cách trái pháp luật. Do vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với tính chất và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, và cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm có tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành người công dân tốt, đồng thời cũng nhằm ngăn ngừa chung đối với loại tội phạm này trong xã hội.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường cho người bị hại được số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng), nên Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, áp dụng điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 làm tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo.

Về nhân thân và các tình tiết tiết tăng nặng:

- Về nhân thân: Bị cáo đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xử phạt 01 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” vào ngày 17/5/2010, đến ngày 14/6/2011 chấp hành xong hình phạt tù (không có án tích do là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng), nhưng vẫn được xem là người có nhân thân xấu.

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào được quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa, người bị hại Nguyễn Hoàng H yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 130.000.000 đồng (Một trăm ba mươi triệu đồng). Bị cáo Võ Thiện T đã khắc phục, bồi thường cho người bị hại được số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng). Người bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường tiếp số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) còn lại, bao gồm các khoản như sau: Tiền tổn thất tinh thần 50.000.000 đồng, tiền mất thu nhập 20.000.000 đồng, tiền điều trị di chứng phát sinh sau này 30.000.000 đồng. Xét các yêu cầu của người bị hại:

- Yêu cầu bồi thường tiền tổn thất tinh thần 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng): Xét thấy người bị hại bị tổn hại sức khỏe từ thương tích là 7% do bị cáo gây ra, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015, chấp nhận một phần yêu cầu của người bị hại, buộc bị cáo bồi thường cho người bị hại 05 tháng lương cơ sở được tính như sau: 2.340.000 đồng x 05 tháng = 11.700.000 đồng (Mười một triệu bảy trăm nghìn đồng).

- Yêu cầu bồi thường tiền mất thu nhập 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng): Xét thấy, tại phiên tòa, người bị hại Nguyễn Hoàng H khai nhận nghề nghiệp của mình là buôn bán, thu nhập mỗi ngày là 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng). Sau khi bị gây thương tích, ông H đã nghỉ buôn bán và điều trị tổng cộng 20 ngày, nên Hội đồng xét xử thống nhất buộc bị cáo bồi thường tiền mất thu nhập cho người bị hại số tiền như sau: 400.000 đồng x 20 ngày = 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng).

- Yêu cầu bồi thường tiền điều trị di chứng phát sinh sau này 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng): Xét quá trình điều tra, người bị hại chỉ cung cấp được các hóa đơn chứng từ chứng minh chi phí điều trị và tiền thuốc tổng số tiền là 10.809.326 đồng (Mười triệu tám trăm lẻ chín nghìn ba trăm hai mươi sáu đồng), nên Hội đồng xét xử buộc bị cáo bồi thường số tiền này cho bị hại. Ngoài ra, tại phiên tòa người bị hại không cung cấp được các chứng cứ chứng minh chi phí điều trị nào khác. Đồng thời, qua hồ sơ bệnh án của người bị hại không xác định người bị hại có di chứng nào khác từ thương tích do bị cáo gây ra, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu này của người bị hại, nếu sau này người bị hại phát sinh di chứng và phát sinh chi phí điều trị mới thì có quyền làm đơn khởi kiện thành vụ kiện dân sự khác.

Tổng số tiền khắc phục bồi thường các khoản mà bị cáo Võ Thiện T buộc phải bồi thường cho người bị hại Nguyễn Hoàng H là: 30.509.326 đồng (Ba mươi triệu năm trăm lẻ chín nghìn ba trăm hai mươi sáu đồng). Bị cáo đã khắc phục, bồi thường cho người bị hại được số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng), còn phải bồi thường thêm cho người bị hại số tiền 509.326 đồng (Năm trăm lẻ chín nghìn ba trăm hai mươi sáu đồng) còn lại.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) đoạn thanh kim loại, màu trắng, hình hộp vuông, dài 48,5cm, đã qua sử dụng, đây là vật chứng liên quan đến việc phạm tội của bị cáo và 01 (một) nón bảo hiểm dạng lưỡi trai màu trắng sữa, viền màu hồng bị hư hỏng nặng, cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố: Bị cáo Võ Thiện T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt: Bị cáo Võ Thiện T – 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính kể từ ngày bị cáo vào chấp hành án.

* Về trách nhiệm dân sự:

- Buộc bị cáo Võ Thiện T phải bồi thường cho người bị hại Nguyễn Hoàng H các khoản như sau: Tiền tổn thất tinh thần 11.700.000 đồng; tiền mất thu nhập 8.000.000 đồng; tiền điều trị, thuốc men 10.809.326 đồng. Tổng cộng các khoản là: 30.509.326 đồng (Ba mươi triệu năm trăm lẻ chín nghìn ba trăm hai mươi sáu đồng). Bị cáo đã khắc phục, bồi thường cho người bị hại được số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng), còn phải bồi thường thêm cho người bị hại số tiền 509.326 đồng (Năm trăm lẻ chín nghìn ba trăm hai mươi sáu đồng) còn lại.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) đoạn thanh kim loại, màu trắng, hình hộp vuông, dài 48,5cm, đã qua sử dụng; 01 (một) nón bảo hiểm dạng lưỡi trai màu trắng sữa, viền màu hồng bị hư hỏng nặng.

(Theo Quyết định cHển giao vật chứng số 130/QĐ-VKS ngày 06/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- An Giang).

* Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

- Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) theo quy định của pháp luật.

* Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (29/7/2025). * Nơi nhận:

Cỡ chữ