vanban.org

Bản án 20/2025/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 20/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Huỳnh Minh T và bị cáo Đinh Quang Q phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Minh T 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 25/10/2024. Xử phạt: Bị cáo Đinh Quang Q 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 25/10/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "huỳnh minh tài và đồng bọn phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Huỳnh Minh T và bị cáo Đinh Quang Q phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP. BUÔN MA THUỘT
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2025/HS-ST
Ngày 22/01/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Đình Thanh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Cảm .

2. Ông Trần Văn Châu.

Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Bích Dịu - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Lê Viết Bình, Kiểm sát viên.

Ngày 22/01/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 12/2025/HS-ST ngày 10/01/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2025/QĐXXST-HS ngày 10/01/2025, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Huỳnh Minh T, sinh ngày 20/4/1998, tại tỉnh Đắk Lắk.

Nơi cư trú: Tổ dân phố F, thị trấn K, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Huỳnh Minh T1, sinh năm 1973, con bà Lương Thị Hồng P, sinh năm 1975, Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Bảo A, sinh năm 2003 (đã ly hôn), Bị cáo có 01 con, sinh năm 2021; Tiền án; tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 21 tháng 11 năm 2019, bị Tòa án nhân dân huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk, xử phạt 09 tháng tù giam, về tội Trộm cắp tài sản, tại Bản án số 30/HSST. Ngày 30 tháng 9 năm 2020 chấp hành xong tại Trại giam Đ (đã được xóa án tích).

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B, từ ngày 25 tháng 10 năm 2024, cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Đinh Quang Q, sinh ngày 12/9/2002, tại tỉnh Đắk Lắk.

Nơi cư trú: Tổ dân phố F, thị trấn K, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Đinh Văn Q1, sinh năm 1973, con bà Trịnh Thị D, sinh năm 1975, Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án; Tiền sự: Không.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B, từ ngày 25 tháng 10 năm 2024, cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

- Ông Y Bình K, sinh năm 1996. Địa chỉ: Buôn N, xã T, huyện C, tỉnh Đắk Nông; vắng mặt.

- Ông Đào Minh H, sinh năm 1995. Địa chỉ: Buôn D, xã Đ, Huyện L, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Đỗ Thanh T2, sinh năm 1987. Địa chỉ: Thôn H, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; có mặt.

- Ông Mai Thanh Q2, sinh năm 1993. Địa chỉ: Thôn I, xã P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; có mặt.

- Ông Nguyễn Hữu T3, sinh năm 1999. Địa chỉ: Tổ dân phố A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; vắng mặt.

Người làm chứng: Chị H’ Diu Byă, sinh năm 2008; người đại diện theo pháp luật của chị H’ Diu Byă là bà H'djă B.

Cùng địa chỉ: Buôn K, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 20 giờ 20 phút ngày 02 tháng 9 năm 2024, Đinh Quang Q mượn chiếc xe máy kiểu dáng Sirius, màu trắng xanh, biển số 47AB-634.85 của chị H’ Diu Byă chở Huỳnh Minh T ngồi sau đi tìm tài sản để trộm cắp. Khi đi đến Bệnh viện Đ1, Quyền cất giấu chiếc xe máy biển số 47AB-634.85 trong khuôn viên của Bệnh viện rồi chia nhau ra đi tìm tài sản để trộm cắp. Đến khoảng 01 giờ sáng ngày 03 tháng 9 năm 2024, Quyền đi đến dãy nhà D tại Bệnh viện đa khoa vùng T, thì thấy 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu sơn đỏ đen, biển số61B1-158.27, của anh Y Bình K1 để tại đây không có người trông coi. Quyền hỏi T biết nối dây điện của xe Sirius để nổ máy không thì T bảo biết và cùng Q đi đến vị trí để chiếc xe mô tô biển số 61B1-158.27. Tại đây, T nói Q trộm cắp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Sirius của anh Y B1, còn T ra lấy xe máy biển số47AB-634.85. Sau đó, T dùng xe máy biển số 47AB-634.85 đẩy Quyền ngồi trên xe mô tô nhãn hiệu Sirius biển số 61B1-158.27, trộm cắp của anh Y B1 chạy tẩu thoát đến khu vực nghĩa địa thuộc xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, cất giấu chiếc xe mô tô biển số 61B1-158.27 vừa trộm cắp được rồi cùng T đi về nhà. Sau đó Q đã trả lại chiếc xe máy biển số 47AB-634.85 cho chị H’ Diu nhận quản lý. Quyền và T dùng chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số61B1-158.27 trộm cắp của anh Y B1, để làm phương tiện đi lại.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 278/KL-HĐĐGTS ngày 02 tháng 12 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành Buôn Ma T4, kết luận: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, màu sơn đỏ đen, biển số61B1-158.27, số máy: 5C64550945, số khung: C640BY550942, đã qua sử dụng, tài sản chưa thu hồi được, trị giá 4.500.000 đồng.

Vụ thứ hai: Khoảng 20 giờ ngày 06 tháng 9 năm 2024, Huỳnh Minh T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 61B1-158.27 chở Đinh Quang Q ngồi sau đi đến Bệnh viện Đ1. Sau đó T cất xe mô tô tại một đường hẻm trên đường T rồi cùng với Q đi bộ vào trong khuôn viên của Bệnh viện Đ1. Quyền và T thống nhất cùng nhau tìm tài sản để trộm cắp. Đến khoảng 00 giờ 30 phút sáng ngày 07 tháng 9 năm 2024, Quyền đi đến dãy nhà E của Bệnh viện, thì thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, biển số 47N1-209.49, của anh Đào Minh Hải đang để tại đây không có người trông coi. Quyền cùng T đi đến lén lút trộm cắp chiếc xe mô tô biển số 47N1-209.49 của anh H rồi tẩu thoát. Quyền dắt xe mô tô biển số 47N1-209.49 ra ngoài cổng Bệnh viện rồi tẩu thoát, còn T đi đến nơi cất giấu chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, biển số 61B1-158.27 điều khiển đi đến đường V, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk thì gặp Q đang dắt chiếc xe mô tô biển số 47N1-209.49. Sau đó T dùng xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius đẩy Quyền ngồi trên xe mô tô nhãn hiệu Honda Future vừa trộm cắp được tẩu thoát. Đến khoảng 07 giờ cùng ngày, thì Q và T đi đến một tiệm sửa khóa trên đường V để cắt chìa khóa xe mô tô nhãn hiệu Honda Future trộm cắp được. Sau đó T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, biển số 47N1-209.49 đi đến tiệm mua bán xe máy cũ “Honda Bảy Thông” thuộc địa bàn thôn H, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, do anh Đỗ Thanh T2, nhưng anh T2 không đồng ý mua. Sau đó anh T2 liên hệ với anh Mai Thanh Q2 là chủ cửa hàng mua bán xe máy cũ “Quý Brembo”, để hỏi anh Q2 có mua xe mô tô không. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, anh Q2 đi cùng với anh Nguyễn Hữu T3 đến tiệm mua bán xe máy cũ của anh T2 để mua chiếc xe mô tô biển số47N1-209.49. Tại đây anh Q2 và Q, T thỏa thuận mua bán chiếc xe mô tô biển số47N1-209.49 với số tiền là 23.000.000 đồng. Sau đó anh Q2 chuyển khoản số tiền 23.000.000 đồng đến số tài khoản 032263790 mở tại ngân hàng V của Huỳnh Minh T. Số tiền này T, Quyền chia nhau mỗi người được 11.500.000 đồng. Sau khi tiêu xài hết tiền, thì T điều khiển chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số61B1-158.27 đến tỉnh Bình Dương, rồi bán xe mô tô cho một người (chưa rõ nhân thân, lai lịch) được số tiền 2.800.000 đồng, số tiền này một mình T tiêu xài hết. Sau khi bi trộm cắp chiếc xe mô tô biển số 47N1-209.4, anh Y B1 đã làm đơn trình báo đến Cơ quan điều tra để xử lý.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 277/KL-HĐĐGTS ngày 01 tháng 12 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành B, kết luận: 01 (một) Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Future, màu sơn đỏ đen, biển số47N1-209.49, số máy: JC90E0279681, số khung: RLHJC7650NY129551, đã qua sử dụng, trị giá: 23.500.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số: 27/CT-VKS - HS ngày 10/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố các bị cáo Huỳnh Minh T và Đinh Quang Q về tội Trộm cắp tài sản, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo khai nhận: Hành vi phạm tội của các bị cáo như bản cáo trạng nêu trên là đúng, những lời khai tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện, khách quan, không bị ép cung nhục hình gì.

Lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng trong quá trình điều tra và tại phiên tòa là khách quan, đầy đủ và đúng sự thật của vụ án.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Minh T mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Xử phạt bị cáo Đinh Quang Q mức án từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Huỳnh Minh T và Đinh Quang Q liên đới bồi thường cho anh Y Bình K1 số tiền 4.500.000 đồng và cho Mai Thanh Q2 số tiền 23.000.000 đồng.

Truy thu sung ngân sách nhà nước của bị cáo ông Huỳnh Minh T số tiền 2.800.000 đồng do trộm cắp mà có.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Future, màu sơn đỏ đen, biển số 47N1-209.49 và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số: 47004310 của xe mô tô biển số 47N1-209.49, là tài sản hợp pháp của anh Đào Minh Hải. Nên Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh H nhận quản lý, sử dụng là phù hợp.

Đối với: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone XS Max, dung lượng 64 Gb, màu đen, số imei: 357278096798328 là tài sản của bị cáo Huỳnh Minh T; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen, số imei: 862191060981192 là tài sản của các bị cáo Đinh Quang Q, không sử dụng vào việc phạm tội. Đề nghị trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.

Đối với chiếc xe máy kiểu dáng Sirius (50cc), màu trắng xanh, biển số 47AB-034.85 là tài sản hợp pháp của chị H’ Diu Byă. Quá trình điều tra xác định chị H’ Diu Byă không biết các bị cáo Huỳnh Minh T và Đinh Quang Q sử dụng chiếc xe máy biển số 47AB-034.85 vào việc phạm tội. Do vậy, Cơ quan điều tra không tạm giữ chiếc xe máy biển số 47AB-034.85 và không đề cập xử lý đối với chị H’ Diu Byă là phù hợp.

Đối với 01 đoạn video ghi lại hình ảnh phạm tội của bị cáo Huỳnh Minh T, bị cáo Đinh Quang Q, lưu giữ trong hồ sơ vụ án để phục vụ công tác xét xử.

Đối với ông Mai Thanh Q2 là người đã mua chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, kiểu dáng Future, màu sơn đỏ đen, biển số 47N1-209.49 của các bị cáo Huỳnh Minh T và bị cáo Đinh Quang Q; ông Đỗ Thanh T2 là người giới thiệu cho ông Q2 mua xe mô tô và ông Nguyễn Hữu T3 là người đi cùng với ông Q2 để gặp bị cáo T và bị cáo Q thỏa thuận mua bán xe mô tô biển số 47N1-209.49. Tuy nhiên, ông Q2, ông T2 và ông T3 đều không biết xe mô tô biển số 47N1-209.49 là tài sản do các bị cáo trộm cắp mà có. Do vậy Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với ông Mai Thanh Q2, ông Đỗ Thanh T2 và ông Nguyễn Hữu T3 là phù hợp.

Các bị cáo đồng ý với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không tranh luận, đối đáp gì với đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột.

Tại phần lời nói sau cùng các bị cáo tỏ thái độ ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để bị cáo được hưởng các chính sách khoan hồng nhân đạo của pháp luật nhà nước.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Xét hành vi của các bị cáo Huỳnh Minh T và Đinh Quang Q đã lén lút trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu sơn đỏ đen, biển số 61B1-158.27, của ông Y Bình K1 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Future, màu sơn đỏ đen, biển số 47N1-209.49, của ông Đào Minh H, với tổng trị giá tài sản các bị cáo chiếm đoạt là 28.000.000 đồng là phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Điều 173 Bộ Luật Hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

. Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm không những đã chiếm đoạt trái phép tài sản của người bị hại mà còn gây nên những ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo nhận thức được rằng tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật quan tâm bảo vệ, mọi hành vi chiếm đoạt trái pháp luật đều bị trừng trị nghiêm khắc. Nhưng do ý thức coi thường pháp luật, coi thường quyền sở hữu tài sản của người khác nên vào khoảng 01 giờ ngày 03 tháng 9 năm 2024, tại dãy nhà D thuộc Bệnh viện Đ1 bị cáo Huỳnh Minh T và bị cáo Đinh Quang Q đã lén lút trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu sơn đỏ đen, biển số 61B1-158.27, của ông Y Bình K1, trị giá 4.500.000 đồng, tiếp đó vào khoảng 0 giờ 30 phút ngày 07 tháng 9 năm 2024, tại dãy nhà E thuộc Bệnh viện đa khoa vùng T, bị cáo Huỳnh Minh T và bị cáo Đinh Quang Q đã lén lút trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Future, màu sơn đỏ đen, biển số 47N1-209.49, của ông Đào Minh H, trị giá 23.500.000 đồng, với mục đích tiêu xài cá nhân.

Trong vụ án này có 02 bị cáo tham gia với vai trò đồng phạm, tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo là ngang nhau, các bị cáo phạm tội 02 lần trở lên, vì vậy mức hình phạt áp dụng đối với 02 bị cáo bằng nhau là phù hợp. Cho nên đối với các bị cáo cần thiết phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, có như vậy, mới đảm bảo phát huy tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo và góp phần răn đe, phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

. Tuy nhiên, xét thấy sau khi phạm tội tại Cơ quan Điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, phạm tội gây thiệt hại không lớn, tài sản đã thu hồi được trả cho người bị hại. Đây là, những tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 của Bộ luật hình sự nên cần xem xét trong quá trình lượng hình để giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt nhằm thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước.

. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Huỳnh Minh T và bị cáo Đinh Quang Q liên đới bồi thường cho ông Y Bình K1 số tiền 4.500.000 đồng, cụ thể bị cáo Huỳnh Minh T bồi thường số tiền 2.250.000 đồng và bị cáo Đinh Quang Q bồi thường số tiền 2.250.000 đồng.

Bồi thường cho ông Mai Thanh Q2 số tiền 23.500.000 đồng, cụ thể bị cáo Huỳnh Minh T bồi thường số tiền 11.750.000 đồng và bị cáo Đinh Quang Q bồi thường số tiền 11.750.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Truy thu sung ngân sách nhà nước của bị cáo Huỳnh Minh T số tiền 2.800.000 đồng do trộm cắp mà có.

. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Future, màu sơn đỏ đen, biển số 47N1-209.49 và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số: 47004310 của xe mô tô biển số 47N1-209.49, là tài sản hợp pháp của anh Đào Minh Hải. Nên Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh H nhận quản lý, sử dụng là phù hợp.

Đối với: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone XS Max, dung lượng 64 Gb, màu đen, số imei: 357278096798328 là tài sản của bị cáo Huỳnh Minh T; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen, số imei: 862191060981192 là tài sản của bị cáo Đinh Quang Q, không sử dụng vào việc phạm tội. Nên cần trả lại cho các bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.

Đối với chiếc xe máy kiểu dáng Sirius (50cc), màu trắng xanh, biển số 47AB-034.85 là tài sản hợp pháp của chị H’ Diu Byă. Quá trình điều tra xác định chị H’ Diu Byă không biết các bị cáo Huỳnh Minh T và Đinh Quang Q sử dụng chiếc xe máy biển số 47AB-034.85 vào việc phạm tội. Do vậy, Cơ quan điều tra không tạm giữ chiếc xe máy biển số 47AB-034.85 và không đề cập xử lý đối với chị H’ Diu Byă là phù hợp.

Đối với 01 đoạn video ghi lại hình ảnh phạm tội của bị cáo Huỳnh Minh T và bị cáo Đinh Quang Q cần lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

Đối với ông Mai Thanh Q2 là người đã mua chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, kiểu dáng Future, màu sơn đỏ đen, biển số 47N1-209.49 của các bị cáo Huỳnh Minh T và bị cáo Đinh Quang Q; ông Đỗ Thanh T2 là người giới thiệu cho ông Q2 mua xe mô tô và ông Nguyễn Hữu T3 là người đi cùng với ông Q2 để gặp bị cáo T và bị cáo Q thỏa thuận mua bán xe mô tô biển số 47N1-209.49. Tuy nhiên, ông Q2, ông T2 và ông T3 đều không biết xe mô tô biển số 47N1-209.49 tài sản do các bị cáo trộm cắp mà có. Do vậy Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với ông Mai Thanh Q2, ông Đỗ Thanh T2 và ông Nguyễn Hữu T3 là phù hợp.

. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Các bị cáo Huỳnh Minh T và bị cáo Đinh Quang Q phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Minh T 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 25/10/2024.

Xử phạt: Bị cáo Đinh Quang Q 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 25/10/2024.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Huỳnh Minh T và bị cáo Đinh Quang Q liên đới bồi thường cho ông Y Bình K1 số tiền 4.500.000 đồng, cụ thể bị cáo Huỳnh Minh T bồi thường số tiền 2.250.000 đồng và bị cáo Đinh Quang Q bồi thường số tiền 2.250.000 đồng.

Bồi thường cho ông Mai Thanh Q2 số tiền 23.500.000 đồng, cụ thể bị cáo Huỳnh Minh T bồi thường số tiền 11.750.000 đồng và bị cáo Đinh Quang Q bồi thường số tiền 11.750.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Truy thu sung ngân sách nhà nước của bị cáo Huỳnh Minh T số tiền 2.800.000 đồng do trộm cắp mà có.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47, Điều 48 của Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố B trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Future, màu sơn đỏ đen, biển số 47N1-209.49 và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số: 47004310 của xe mô tô biển số 47N1-209.49, cho ông Đào Minh H nhận quản lý, sử dụng.

Trả lại: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone XS Max, dung lượng 64 Gb, màu đen, số imei: 357278096798328, đã qua sử dụng cho bị cáo Huỳnh Minh T; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen, số imei: 862191060981192, đã qua sử dụng cho bị cáo Đinh Quang Q nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.

(Đặc điểm, khối lượng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an thành phố B và Chi cục Thi hành án thành phố Buôn Ma Thuột ngày 15/01/2025).

Lưu hồ sơ vụ án 01 đoạn video ghi lại hình ảnh phạm tội của bị cáo Huỳnh Minh T và bị cáo Đinh Quang Q.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Huỳnh Minh T và Đinh Quang Q mỗi bị cáo phải nộp 700.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Các bị cáo Huỳnh Minh T và bị cáo Đinh Quang Q mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án công khai.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thị hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ