- Tranh chấp gì? án hình sự — "NTLH - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1]. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Lan Hương phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2025/HS-ST Ngày 16/01/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hiền
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đặng Như Hùng
Bà Chu Thị Tuyết
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Xuân Huy - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Phương- Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 318/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 329/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2024 đối với:
Bị cáo Nguyễn Thị Lan Hương, sinh ngày 07/02/ 1995; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: TDP Chuôi Ná, thị trấn Hương Canh, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; con ông: không xác định, con bà: Nguyễn Thị Bích Liên; có 02 con, con lớn sinh năm: 2017, con nhỏ sinh năm: 2019; tiền án: 03 tiền án: (2 năm 6 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Bản án số 39/2017/HSST ngày 11/8/2017 của Toà án ND huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc; 7 năm tù về tội Cưỡng đoạt tài sản, tổng hợp với hình phạt 2 năm 6 tháng tù, hình phạt chung là 9 năm 6 tháng theo bản án số 257/2019/HSST ngày 20/8/2019 của Toà án TP Hà Nội; 4 năm 6 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tổng hợp với hình phạt 9 năm 6 tháng, hình phạt chung là 14 năm tù theo bản án số 92/2021/HSST ngày 17/9/2021 của Toà án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc); tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt và tạm giam từ ngày 02/7/2021. Hiện đang chấp hành án tại Trại giam Quyết Tiến, Bộ Công an, được trích xuất về Nhà tạm giữ Công an quận Thanh xuân để phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử. (Có mặt).
Người bị hại: Anh Vũ Anh Tuấn, sinh năm 1982; Hộ khẩu thường trú: Số 06 ngõ 70 Trương Định, Hai Bà Trưng, Hà Nội. Có đơn xin xét xử vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 01/2018, Nguyễn Thị Lan Hương quen biết với anh Vũ Anh Tuấn (Sinh năm 1982, HKTT: số 06 ngõ 70 Trương Định, Hai Bà Trưng, Hà Nội) và nảy sinh tình cảm yêu đương. Tháng 7/2018, Hương thấy anh Đỗ Phúc Thọ (sinh năm 1990, địa chỉ: số 11 ngõ 190 Nguyễn Trãi, Nhân Chính, Thanh Xuân, Hà Nội) đăng bán các xe ô tô cũ trên mạng xã hội nên nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản bằng cách lấy thông tin các xe ô tô của anh Thọ giới thiệu với anh Tuấn, lừa anh Tuấn đặt cọc tiền mua xe sau đó chiếm đoạt.
Ngày 14/7/2018, Hương gọi điện cho anh Tuấn nói dối có 02 xe ô tô nhãn hiệu Toyota Camry 2.5Q, BKS: 655.54, sản xuất năm 2016 và xe Toyota Camry 2.5G, BKS: 30E-031.08 đang muốn bán. Nếu anh Tuấn mua lại thì Hương sẽ bán 02 xe với giá là 380.000.000 đồng/ 01 chiếc. Anh Tuấn Tuấn tin tưởng là xe của Hương nên đồng ý mua 01 xe Toyota Camry 2.5G, BKS: 30E - 031.08.
Ngày 15/7/2018, Hương và anh Tuấn gặp nhau tại sảnh R2A Royal City, Thượng Đình, Thanh Xuân, Hà Nội. Tại đây, anh Tuấn đưa cho Hương 90.000.000 đồng tiền đặt cọc mua xe Toyota Camry 2.5G, BKS: 30E - 031.08, hai bên không viết giấy biên nhận.
Ngày 16/7/2018, tại sảnh R2-A2 Royal City, anh Tuấn tiếp tục đặt cọc cho Hương số tiền 150.000.000 đồng và yêu cầu Hương cho xem xe nhưng Hương nói dối là đang đi làm giấy tờ, khi nào xong thì cho anh Tuấn xem. Anh Tuấn đồng ý. Số tiền này hai bên cũng không viết giấy tờ biên nhận.
Sau khi nhận được tiền của anh Tuấn, ngày 17/7/2018, Hương gọi điện cho anh Đỗ Phúc Thọ, yêu cầu anh Thọ mang xe ô tô Toyota Camry, BKS: 30E-031.08 đến sảnh R2A Royal City để cho khách của Hương xem xe. Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày 17/7/2018, anh Thọ điều khiển xe ô tô đến sảnh R2A Royal City. Hương bảo anh Thọ chờ ở ngoài để Hương giao dịch với khách. Khoảng 15 phút sau, anh Tuấn ra sảnh xem xe và lái xe ô tô đi thử. Hương nói với anh Tuấn xe này mua lại của ông Bùi Tiến Luân (Địa chỉ: 36/47 Khương Trung, Thanh Xuân, Hà Nội). Anh Tuấn kiểm tra số khung, số máy của xe ô tô thì thấy trùng khớp với giấy đăng kiểm xe và giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Bùi Tiến Luân nên hoàn toàn tin tưởng đây là xe của Hương. Anh Tuấn tiếp tục đưa cho Hương 50.000.000 đồng. Hai bên lập 01 “Giấy nhận tiền đặt cọc” với nội dung anh Tuấn đặt cọc cho Hương số tiền 290.000.000 đồng để mua 01 chiếc xe ô tô Toyota Camry, BKS: 30E-031.08. Anh Tuấn yêu cầu Hương cho mượn giấy đăng ký xe và giấy đăng kiểm xe ô tô Camry 2.5G, BKS: 30E-031.08 để làm tin nhưng Hương không đồng ý mà hẹn anh Tuấn sáng ngày 18/7/2018 sẽ cùng nhau đến Công an quận Thanh Xuân để hoàn tất thủ tục sang tên đổi chủ. Anh Tuấn trả hết số tiền còn lại cho Hương thì Hương mới bàn giao toàn bộ giấy tờ xe cho anh Tuấn.
Ngày 18/7/2018, anh Tuấn lên mạng xã hội phát hiện thông tin xe ô tô Toyota Camry, BKS: 30E-031.08 được rao bán ở showroom auto Lê Văn Lương nên nghi ngờ chiếc xe trên không thuôc quyền sở hữu của Hương. Anh Tuấn gọi điện cho Hương báo không mua xe nữa và yêu cầu Hương trả lại tiền tuy nhiên Hương trốn tránh, cắt đứt liên lạc. Anh Tuấn đã gửi đơn tố giác đến cơ quan công an đồng thời giao nộp 01 Giấy đặt cọc đề ngày 17/7/2018 nội dung như trên.
Tại Bản kết luận giám định số 5348/C09 – P5 ngày 31/10/2018 của Viện khoa học hình sự - Bộ công an, kết luận: Chữ viết tại các dòng thứ 2, 3 tính từ trên xuống và chữ “Nguyễn Thị Lan Hương” dưới mục “Bên nhận cọc” là chữ viết của Nguyễn Thị Lan Hương. Còn chữ ký dưới mục “Bên nhận cọc” không đủ cơ sở kết luận chữ ký của Nguyễn Thị Lan Hương hay không.
Tại Bản kết luận giám định bổ sung số 6068/C09 – P5 ngày 31/10/2019 của Viện khoa học hình sự - Bộ công an, kết luận: Không đủ cơ sở kết luận chữ ký đứng tên Nguyễn Thị Lan Hương dưới mục “Bên nhận cọc” trên Giấy đặt cọc đề ngày 17/7/2018 có phải là của Nguyễn Thị Lan Hương hay không.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Thị Lan Hương khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Hương khai không có chiếc xe ô tô như trên, nhưng do muốn chiếm đoạt tiền của anh Tuấn nên Hương đã nói dối nhằm anh Tuấn tin tưởng đưa tiền cho Hương. Số tiền 290.000.000 đồng anh Tuấn đưa cho Hương, Hương đã chi tiêu cá nhân hết.
Đối với xe ô tô Toyota Camry, BKS: 30E-031.08, quá trình điều tra xác định: Chiếc xe ô tô của anh Đỗ Phúc Thọ. Anh Thọ khai, ngày 17/7/2018 sau khi anh Tuấn lái xe đi thử, Hương bảo anh Thọ ra xe ngồi chờ để Hương giao dịch với khách sau đó khách sẽ chuyển khoản vào tài khoản của anh Thọ. Anh Thọ ngồi chờ ở xe khoảng hơn 01 tiếng nhưng không liên lạc được với Hương nên đã lái xe đi về. Việc Hương nhận tiền cọc mua xe của anh Tuấn sau đó chiếm đoạt, anh Thọ không biết, không tham gia do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.
Về dân sự: Anh Vũ Anh Tuấn yêu cầu Nguyễn Thị Lan Hương bồi thường số tiền 290.000.000 đồng đã chiếm đoạt.
Tại bản cáo trạng số 298/CT-VKS ngày 28/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân truy tố bị cáo Nguyễn Thị Lan Hương về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, theo quy định tại khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân truy tố, không kêu oan, chỉ mong Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân Quận Thanh Xuân tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố theo Cáo trạng số 298/CT-VKS ngày 28/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 3 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 55, 56 Bộ luật Hình sự,
Xử phạt Nguyễn Thị Lan Hương từ 7 năm 6 tháng tù đến 8 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, đồng thời tổng hợp hình phạt 14 năm tù theo Bản án Dân sự sơ thẩm số 92/2021/HSST ngày 17/9/2021 của Toà án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/7/2021 (được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/11/2018 đến ngày 23/11/2018 và từ ngày 04/5/2019 đến ngày 28/6/2019).
Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Anh Vũ Anh Tuấn tự nguyện cho bị cáo Nguyễn Thị Lan Hương số tiền 140.000.000 đồng, đây là sự tự nguyện của anh Tuấn. Do đó, buộc bị cáo Nguyễn Thị Lan Hương phải bồi thường cho anh Vũ Anh Tuấn số tiền đã chiếm đoạt còn lại là 150.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng: Cơ quan điều tra Công an quận Thanh Xuân, điều tra viên và Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo:
. Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Thị Lan Hương thừa nhận toàn bộ hành vi của mình đúng như Cáo trạng truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Thị Lan Hương phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ: như lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, phù hợp với các vật chứng đã thu giữ, các kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận:
Mặc dù Nguyễn Thị Lan Hương không có chiếc xe ô tô Toyota Camry, BKS: 30E-031.08, Hương biết được thông tin của xe do anh Đỗ Phúc Thọ đăng bán trên mạng xã hội. Để chiếm được tiền của anh Vũ Anh Tuấn. Hương nói dối với anh Tuấn rằng Hương có chiếc xe ô tô nêu trên và cần bán. Tin tưởng Hương nói là thật nên các ngày 15,16/8/2018, tại sảnh R2A Royal City, Thượng Đình, Thanh Xuân, Hà Nội, anh Tuấn đã đặt cọc cho Hương lần lượt số tiền 90.000.000 đồng và 150.000.000 đồng. Để tiếp tục lấy được tiền của anh Tuấn, ngày 17/8/2018, Hương gọi anh Thọ mang chiếc xe ô tô đến rồi cho Anh Tuấn xem xe và đi thử. Sau khi kiểm tra chiếc xe ô tô, anh Tuấn tiếp tục đưa cho Hương 50.000.000 đồng và hai bên viết giấy đặt cọc. Hương hẹn anh Tuán đến Công an quận Thanh Xuân để làm thủ tục sang tên. Tuy nhiên, sau đó Hương ngắt liên lạc và chiếm đoạt tổng số tiền 290.000.000 đồng.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Lan Hương phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Điều 174 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng…thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng 03 năm.”
…
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;….”
. Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thị Lan Hương là rất nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội nên cần xử phạt nghiêm khắc, cân xứng hới hành vị phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục và đấu tranh phòng ngừa chung.
. Xét nhân thân của bị cáo có 02 tiền án về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, 01 tiền án về tội Cưỡng đoạt tài sản, nay bị cáo tiếp tục phạm tội, lần này phạm tội là tái phạm quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. và phải tổng hợp với hình phạt của bản án trước để buộc bị cáo phải chấp hành chung.
Khi quyết định hình phạt, hội đồng xét xử có xem xét viêc bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải; người bị hại có đơn đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất nên được áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Thị Lan Hương đã chiếm đoạt 290.000.000 đồng của anh Vũ Anh Tuấn. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án người bị hại là anh Vũ Anh Tuấn có đơn trình bày: Do hoàn cảnh gia đình bị cáo Hương khó khăn, bị cáo là mẹ đơn thân đang nuôi 02 con nhỏ nên anh Vũ Anh Tuấn tự nguyện cho bị cáo Hương số tiền là 140.000.000 đồng, anh Tuấn chỉ yêu cầu bị cáo Hương phải trả cho anh 150.000.000 đồng đã chiếm đoạt của anh. Xét đây là sự tự nguyện của anh Tuấn nên được HĐXX ghi nhận. Do đó, buộc bị cáo Hương phải bồi thường cho anh Tuấn số tiền 150.000.000 đồng là phù hợp với quy định tại các Điều 584, 585, 586 và 589 Bộ luật Dân sự.
. Để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người được thi hành án dân sự, Hội đồng xét xử xác định: người được thi hành án dân sự và người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Người phải thi hành án dân sự về nghĩa vụ trả tiền phải trả lãi suất do chậm thực hiện nghĩa vụ thi hành án theo các Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
. Bị cáo Nguyễn Thị Lan Hương phải chịu án phí sơ thẩm theo điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
. Bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan điều tra đã tiến hành lấy lời khai của anh Đỗ Phúc Thọ. Anh Thọ xác định anh không bị thiệt hại gì về tài sản; cơ quan điều tra không thu giữ xe hay tài sản gì của anh Thọ, anh Thọ không có yêu cầu đề nghị gì nên xét thấy không cần thiết phải đưa anh Thọ với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Lan Hương phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Căn cứ điểm khoản 3 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 55, 56 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Lan Hương: 7 (bảy) năm 6 (sáu) tháng tù.
Tổng hợp hình phạt 14 năm tù theo Bản án Hình sự sơ thẩm số 92/2021/HSST ngày 17/9/2021 của Toà án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc, buộc bị cáo Nguyễn Thị Lan Hương phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 21 (hai mươi mốt) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/7/2021 (được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/11/2018 đến ngày 23/11/2018 và từ ngày 04/5/2019 đến ngày 28/6/2019).
[2]. Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586 và 589 Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo Nguyễn Thị Lan Hương phải bồi thường cho anh Vũ Anh Tuấn số tiền 150.000.000 (một trăm năm mươi triệu) đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
[3]. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Thị Lan Hương phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 7.500.000 (bảy triệu, năm trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
[4]. Căn cứ các Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - TAND TP Hà Nội; - VKSND TP Hà Nội; - VKSND Quận Thanh Xuân; - Công an Quận Thanh Xuân, TP. Hà Nội; - Chi cục thi hành án dân sự quận Thanh Xuân; - Bị cáo; bị hại; - Trại giam Quyết Tiến- BCA; - Lưu hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA HOÀNG THỊ THU HIỀN |