vanban.org

Bản án 20/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 31/03/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Tân S phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lê Tân S: 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/3/2025. Xử lý vật chứng : căn cứ khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý làm hư hỏng tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Tân S phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN TAM NÔNG
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2025/HS-ST
Ngày 31-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Trí Viễn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hữu Phúc;

Ông Lê Văn Bé.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Đục, Thư ký Toà án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Mạnh - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 26/02/2025, 25/3/2025, 31/3/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 06/2025/TLST-HS ngày 20/01/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXST-HS ngày 12/02/2025, Quyết định hoản phiên tòa số: 04/2025/HSST-QĐ ngày 26/02/2025, đối với bị cáo:

Lê Tân S, sinh năm 1987 tại Đồng Tháp; nơi thường trú: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang; Nơi ở hiện nay: ấp D, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 04/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Quan T, sinh năm 1975 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1963; có vợ Trần Thị Diễm T2 (Đặng Thị Diễm T3), sinh năm 1989 và 02 con; tiền án: không, tiền sự: Ngày 12/4/2024, UBND xã A xử phạt hành chính về hành vi đập phá tài sản người khác; Nhân thân: ngày 25/3/2025 bị Tòa án nhân dân huyện Tam Nông xử phạt 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”; Bị bắt tạm giam ngày 09/3/2025, có mặt.

- Bị hại: Bùi Thanh T4, sinh năm 1991, địa chỉ: ấp D, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, (phiên tòa ngày 25/3/2025 có mặt, phiên tòa ngày 31/3/2025 vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Lê Quan T, sinh năm 1965, địa chỉ: ấp D, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (phiên tòa ngày 25/3/2025 có mặt, phiên tòa ngày 31/3/2025 vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 21/9/2024, Lê Tân S đang nằm trong nhà của cha là ông Lê Quan T thuộc ấp D, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, lấy 01 cây búa cầm trên tay trái, 01 cây dao tự chế và 01 nạn thun cầm trên tay phải, đi bộ qua nhà của ông Bùi Thanh T4 gần nhà ông T, cùng ấp D, xã A. S dùng chân đạp cửa hàng rào, bước vào trước sân nhà ông T4, lượm cục đá ném vào cửa nhà loại cửa kéo Đài Loan, lượm cục đá bỏ vào nạn thun bắn bể bóng dèn năng lượng mặt trời hiệu Solar Light 300W phía trước cửa nhà. Thấy xe mô tô biển số 59N2 - 372.71, hiệu VIVA RI 10 đậu gần đó, S dùng chân đạp ngã xe, dùng búa đập vào nhiều chỗ trên xe làm xe bị bể mặt nhựa đồng hồ, bể nắp lốc máy, bể ốp nhựa bảo vệ khung xe. S tiếp tục dùng búa chém nhiều cái vào 02 cánh cửa nhà, làm cho cánh cửa lá sách bị đứt rách hai mươi tám lá; bị cong vênh biến dạng một thanh tay nắm gỗ, một thanh Ư nối và một bộ nhíp.

- Vật chứng của vụ án gồm: 01 xe mô tô bị bể mặt đồng hồ, bể nắp lóc máy, bể ốp nhựa; 01 đèn năng lượng mặt trời bị bể; 01 con dao, 01 nạn thun, 01 cây búa.

- Kết luận định giá tài sản: 01 cánh cửa lá sách, kích thước 5,6m x 2,8m bị đứt rách 28 (hai mươi tám) lá: 1.268.400 đồng; 01 thanh tay nắm gỗ dài 3m bị cong vênh biến dạng: 545.100 đồng; 01 thanh U nối dài 3m: 234.900 đồng; 01bộ nhíp có 02 cây: 13.400 đồng; 01 mặt nhựa đồng hồ; 01 nắp lóc máy, 01 ốp nhựa bảo vệ khung xe mô tô: 3.666.700 đồng; 01 đèn năng luợng mặt trời bị bể: 583.300 đồng. Tổng cộng: 6.311.800 đồng.

- Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết quả định giá, vật chứng nêu trên.

- Bản Cáo trạng số: 13/CT-VKSTN, ngày 18/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp đã truy tố Lê Tân S phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Áp dụng khoản 1 Điều 178; khoản 1 Điều 38; điểm d khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo: 09 – 12 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung.

+ Về trách nhiệm dân sự: đã giải quyết xong.

+ Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy các vật chứng: 01 cây dao; 01 nạn thun, 01 cây búa.

Đối với các tài sản hư hỏng của ông Bùi Thanh T4, đã nhận lại, nên không xem xét.

- Lời nói sau cùng của bị cáo: xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp nội dung bản Cáo trạng, lời khai người bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ.

Điều 178 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm…”

Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo đạp cửa hàng rào, vào nhà bị hại T4, dùng ná (nạn thun) bắn bể bóng đèn năng lượng mặt trời, dùng chân đạp xe ngã rồi dùng búa đập vào xe mô tô làm bị bể mặt đồng hồ, nắp lốc máy, nhựa bảo vệ khung xe, dùng búa chém vào cánh cửa lá sách, trị giá 6.311.800 đồng, làm các bộ phận của cửa nhà, xe phải thay thế mới sử dụng được. Nên đã đủ cơ sở kết luận bị cáo S đã phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo Điều 178 của Bộ luật hình sự.

Hành vi của bị cáo mang tính nguy hiểm cao cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của ông Bùi Thanh T4, gây mất an ninh trật tự trị an ở địa phương, hành vi này còn thể hiện tính bất chấp pháp luật của bị cáo nên cần thiết phải xử lý nghiêm để có tác dụng giáo dục và răn đe tội phạm.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có mâu thuẫn với ông T4, ngang nhiên qua nhà của ông T4 đập phá, tài sản giữa đêm tối, là hành vi mang tính chất côn đồ, nên cần áp dụng điểm d khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự để xem xét tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, bồi thường thiệt hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, nên nghĩ cần áp dụng các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Xét tính chất, mức độ, hậu quả và ý thức phạm tội của bị cáo, nghĩ cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống để được giáo dục trở thành công dân tốt, có như thế mới thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

Vể hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 178 Bộ luật Hình sự quy định thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền.Tuy nhiên, xét thấy bị cáo là lao động tự do, điều kiện kinh tế khó khăn, không có tài sản. Nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, không có yêu cầu bồi thường thiệt hại, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Các tài sản hư hỏng của anh T4 đã giao trả trong quá trình điều tra, tại phiên tòa không tranh chấp, nên Hội đồng xét xử không xử lý.

Đối với 01 cây dao, 01 nạn thun, 01 cây búa, là công cụ phạm tội, là vật không giá trị, tại phiên tòa, ông T và bị cáo đồng ý tịch thu tiêu hủy, nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về án phí hình sự sơ thẩm: căn cứ các Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự và áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí Tòa án, để buộc bị cáo S chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lê Tân S phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 178, điểm d khoản 1 Điều 52; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Tân S: 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/3/2025.

- Xử lý vật chứng : căn cứ khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: : 01 cây dao, kích thước cán gỗ dài 24,5 cm (hai mươi bốn phẩy năm centimet), lưỡi kim loại dài 25,5 cm (hai mươi lăm phẩy năm centimet), đã qua sử dụng; 01 nạn thun hình chữ Y bằng gỗ có cộc dây thung màu vàng – vải màu xanh, kích thước 21,5 cm x 7,5 cm (hai mươi mốt phẩy năm nhân bảy mươi phẩy năm centimet), đã qua sử dụng; 01 cây búa, kích thước cán gỗ dài 38 cm (ba mươi tám centimet), lưỡi kim loại 04 cm (bốn centimet), đã qua sử dụng.

(Hiện Chi cục THADS huyện T đang quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số: 09/QĐ-VKSTN ngày 18/01/2025).

- Án phí hình sự sơ thẩm:Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, các Điều 12, 15, 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Lê Tân S nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ