- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thanh V phạm tội “Vận chuyển hàng cấm” - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Thanh V phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƢỚNG HOÁ TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2025/HS-ST Ngày: 08 - 4 - 2025 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƢỚNG HOÁ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Quang Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thanh Trung và bà Trần Thị Thương
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Bé - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên toà: Bà Hồ Thị Đợi - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 4 năm 2025, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/2025/TLST-HS ngày 04/3/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2025/QĐXXST-HS ngày ngày 24 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:
Trần Thanh V; sinh ngày: 17/8/1979, tại tỉnh Quảng Nam; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: khối phố PN, phường ĐA, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Con ông Trần Văn T, sinh năm 1958 và bà Huỳnh Thị L, sinh năm 1959; Vợ: Trịnh Thị Út P, sinh năm 1982; Có 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2015
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/12/2024 đến ngày 11/12/2024, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH Kinh doanh Vận tải TMT; Địa chỉ trụ sở chính: số ** ĐBP, phường CG, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng; Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hữu T - Chủ tịch hội đồng thành viên; Trú tại: số ** ĐBP, phường CG, Quận Thanh Khê, TP. Đà Nẵng.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Mạnh H; sinh năm 1969; Trú tại: K148/36 LTT, quận HC, thành phố Đà Nẵng (theo giấy ủy quyền ngày 05/4/2025). Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 14 giờ 50 phút ngày 02/12/2024, tại Km 64+950 Quốc lộ 9, thuộc địa phận khối 3B, thị trấn Khe Sanh, huyện Hướng Hóa. Tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế chức vụ phối hợp với Đội Cảnh sát giao thông trật tự, Công an huyện Hướng Hóa đón chặn xe ô tô đầu kéo gắn biển kiểm soát 43H-054.**, kéo theo sơ mi rơ moóc biển kiểm soát 43R-025.59 do Trần Thanh V điều khiển di chuyển theo hướng từ thị trấn Lao Bảo về thành phố Đông Hà để kiểm tra. Quá trình kiểm tra phát hiện tại vị trí sàn gác chân ở ghế phụ bên trong buồng lái xe do V điều khiển có 01 bao gai màu xanh, bên trong có 02 bao ni lông màu đen và 01 hộp giấy, cụ thể:
+ 01 bao ni lông màu đen bên trong đựng 01 hộp giấy, trên vỏ hộp có in hoa văn nhiều màu sắc và dòng chữ ký hiệu OK04-23-01, bên trong hộp giấy có các ống hình trụ tròn được liên kết với nhau;
+ 01 bao ni lông màu đen bên trong đựng 01 hộp giấy, trên vỏ hộp có in hoa văn nhiều màu sắc và dòng chữ ký hiệu CHONGKOL C1759C, bên trong hộp giấy có các ống hình trụ tròn được liên kết với nhau;
+ 01 hộp giấy, trên vỏ hộp có in hoa văn nhiều màu sắc và dòng chữ ký hiệu CHONGKOL C1759C, bên trong hộp giấy có các ống hình trụ tròn được liên kết với nhau.
Trần Thanh V khai nhận 03 hộp giấy nói trên là pháo hoa nổ, V mua để sử dụng vào dịp Tết Nguyên đán. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang.
Quá trình điều tra, Trần Thanh V khai nhận:
Ngày 30/11/2024, V được Công ty TNHH kinh doanh vận tải TMT giao điều khiển xe ô tô đầu kéo BKS 43H- 054.**, kéo sơ mi rơ moóc BKS 43R-025.** vận chuyển giấy phế liệu từ cảng Tiên Sa, thành phố Đà Nẵng sang giao hàng tại nhà máy giấy ở huyện Sê Pôn, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, xuất cảnh qua Cửa khẩu Quốc tế Lao Bảo thuộc Quảng Trị và nhận lô hàng giấy cuộn thành phẩm để vận chuyển về cảng Tiên Sa, thành phố Đà Nẵng. Khoảng 10 giờ ngày 02/12/2024, V làm xong thủ tục nhập cảnh phương tiện tại Cửa khẩu Quốc tế Lao Bảo và điều khiển xe ra bãi chờ của Hải quan đỗ xe rồi đi ăn cơm. Khi V quay lại để tiếp tục điều khiển xe chở hàng về thì gặp một người phụ nữ đang đứng ở cổng cửa khẩu (Quá trình điều tra không xác minh được nhân thân, lai lịch), V hỏi: “Có biết chỗ nào bán pháo không?”, người phụ nữ hỏi lại: “Mua pháo gì? Mấy hộp?”, V trả lời: “Mua 02 hộp to và 01 hộp nhỏ, giá mấy tiền?”, người này nói với V: “Anh cứ lái xe di chuyển qua cây xăng thứ 2 ở xã Tân Thành, huyện Hướng Hóa (cây xăng gần tượng Phật) sẽ có người bỏ pháo trong bao gai và đặt ở cạnh đường giao cho anh, 03 hộp pháo hết 1.650.000 đồng, chuyến sau lên gặp rồi trả tiền cho tôi”. Sau khi trao đổi, V lái xe di chuyển theo hướng Lao Bảo - Đông Hà, khi đi ngang cây xăng thứ 2 ở xã Tân Thành, huyện Hướng Hóa thì nhìn thấy bên phải lề đường, sát cột lan can có 01 bao gai màu xanh. V dừng xe rồi đi đến vị trí đặt bao gai, nhìn thấy trong bao có các khối hộp hình vuông, xách lên thấy nặng nên V biết bên trong có chứa pháo. V mở cửa xe và đặt bao gai chứa pháo ở vị trí ghế phụ của xe rồi điều khiển xe tiếp tục di chuyển. Khi đi đến Km 64+950 Quốc lộ 9 thuộc địa phận khối 3B, thị trấn Khe Sanh, huyện Hướng Hóa thì bị lực lượng chức năng phát hiện, bắt quả tang.
Vật chứng tạm giữ, gồm:
- 03 (ba) hộp giấy nghi là pháo hoa nổ, trên vỏ mỗi hộp có hoa văn nhiều màu sắc và dòng chữ nước ngoài, trong đó có: 02 (hai) hộp có ký hiệu CHONG KOL C1759C và 01 (một) có ký hiệu OK04-23-01, bên trong mỗi hộp giấy có các ống hình trụ tròn dược liên kết với nhau; được niêm phong trong 01 (một) thùng giấy cát tông, ký hiệu: V1.
- 02 (hai) bao ni long màu đen và 01 (một) bao gai màu xanh đã qua sử dụng, đã bị mở trong quá trình kiểm tra, được niêm phong trong 01 (một) thùng giấy cát tông, ký hiệu: V2.
- 01 (một) xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 43H-054.**, nhãn hiệu CHENGLONG,
số
loại:
LZ4255H7DB,
số
máy: YC6MK42050MX1L6M02381, số khung: LGGG4DY35ML329583, cùng với 01 thiết bị giám sát hành trình tích hợp đầu ghi camera màu đen (Model: TMS-CAM2-NDD10) kèm hệ thống camera, dây kết nối.
- 01 (một) sơ mi rơ moóc biển kiểm soát 43R-025.**, nhãn hiệu: MINGWEI, số loại: NHG9350TJZGUA, số khung: LJT93VGJXG0011644.
- 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 43 010287, tên chủ xe: Công ty TNHH KDVT TMT, do Công an thành phố Đà Nẵng cấp ngày 23/4/2024.
- 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký rơ moóc, sơ mi rơ moóc số 003133, tên chủ xe: Công ty TNHH KDVT TMT, do Công an thành phố Đà Nẵng cấp ngày 09/8/2019.
- 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định số EB 0596641 do Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới 43-03D, cấp ngày 25/4/2024.
- 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định số EB-0598395 do Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới Hòa Cầm 43-04D - Chi nhánh Công ty cổ phần kỹ thuật ĐBL thành phố Đà Nẵng cấp ngày 18/7/2024.
- 01 (một) giấy phép liên vận giữa Việt Nam và Lào số 2250, do Sở Giac thông vận tải thành phố Đà Nẵng cấp ngày 09/5/2024.
- 01 (một) giấy phép liên vận giữa Việt Nam và Lào số 03, do Sở Giao thông vận tải thành phố Đà Nẵng cấp ngày 03/01/2024.
- 01 (một) Container loại 40ft, số YMMU6117331, đã qua sử dụng; bên trong đựng các cuộn giấy tái chế, trọng lượng: 24.960 kg.
- 01 (một) giấy phép lái xe hạng FC số 490101000520 mang tên Trần Thanh V, do Sở Giao thông vận tải tỉnh Quảng Nam cấp ngày 31/5/2023.
- 01 (một) hộ chiếu số P03292060 mang tên Trần Thanh V, do Cục Quản lý xuất nhập cảnh - Bộ Công an cấp ngày 28/3/2024.
- 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Galaxy, màu xanh đen, bên trong khe sim có gắn 02 thẻ sim, trong đó: khe sim 01 gắn một thẻ sim có ký tự: 4G mobifone 8401240433004330; khe sim 02 gắn một thẻ sim có ký tự: Unitel SIM Net 8945703002131267245.
Kết luận giám định số 1331/KL-KTHS ngày 10/12/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị kết luận:
Mẫu vật được niêm phong trong thùng giấy có ký hiệu V1 gửi đến giám định là pháo hoa nổ. Khối luợng 6,9 kg.
Bản kết luận giám định số 169/KL-KTHS ngày 09/01/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị kết luận:
- Thiết bị giám sát hành trình gửi đến giám định, tìm thấy 02 (hai) tập tin video có tên: “VID_1_20241202_142036.mp4" (dung lượng 2,78 MB), "VID_2_20241202_142000.mp4" (dung lượng 6,09 MB) có hình ảnh thể hiện giống với hành vi vận chuyển hàng cấm.
- Dữ liệu về điểm dừng đỗ trong ngày 02/12/2024 từ trung tâm lưu trữ dữ liệu (theo địa chỉ: https://dinhvi.adsun.vn/; tên truy cập: “43H05440", mật khẩu: 12345; biển số: 43H05440) và thiết bị giám sát hành trình gửi đến giám định xác định được dữ liệu hành trình của phương tiện vào ngày 02 tháng 12 năm 2024 (Mô tả chi tiết tại bản kết luận trên).
Tại bản cáo trạng số: 17/CT-VKSHH ngày 28/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị đã truy tố bị cáo Trần Thanh V về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Thanh V phạm tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật hình sự.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 35; Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thanh V từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy số pháo còn lại sau giám định gồm 01 (một) hộp pháo hoa nổ, vỏ ngoài hộp bọc giấy nhiều mắc sắc có ký hiệu C1759C được niêm phong trong 01 thùng giấy, ký hiệu V1, có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị.
Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) bao ni long màu đen và 01 (một) bao gai màu xanh đã qua sử dụng, đã bị mở trong quá trình kiểm tra, được niêm phong trong 01 (một) thùng giấy cát tông, ký hiệu: V2.
Về án phí: Buộc bị cáo Trần Thanh V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo Trần Thanh V thừa nhận hành vi bị truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hướng Hóa, điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai và các tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Ngày 02/12/2024, bị cáo Trần Thanh V đã có hành vi vận chuyển 03 hộp pháo từ thị trấn Lao Bảo, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị với mục đích để sử dụng. Theo kết luận giám định số 1331/KL-KTHS ngày 10/12/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị kết luận: Mẫu vật được niêm phong trong thùng giấy có ký hiệu V1 gửi đến giám định là pháo hoa nổ. Khối luợng 6,9 kg. Vì vậy, hành vi của bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển hàng cấm” với tình tiết định khung “Pháo nổ từ 06 kg đến dưới 40 kg”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự.
Xét về tính chất, hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước đối với hàng hóa là pháo nổ, làm mất ổn định an ninh, trật tự tại địa phương. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình nhưng cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội mới có tác dụng giáo dục, răn đe trong việc phòng, chống tội phạm.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo có nhân thân tốt, bị cáo lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên cần xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Thành khẩn khai báo và ăn năn, hối cải”, “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ theo Điều 51 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo có nhân thân tốt thể hiện đây là lần đầu phạm tội, có nơi cư trú và làm việc rõ ràng; bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, tội phạm xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế nên cần áp dụng hình phạt chính là phạt tiền theo khoản 1 Điều 35 Bộ luật hình sự là thỏa đáng. Khi lượng hình cần áp dụng khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng có tác dụng giáo dục, phòng chống tội phạm.
Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Trần Thanh V.
Về xử lý vật chứng:
Số pháo hoàn lại sau giám định gồm 01 (một) hộp pháo hoa nổ, vỏ ngoài hộp bọc giấy nhiều mắc sắc có ký hiệu C1759C được niêm phong trong 01 thùng giấy, ký hiệu V1, có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 02 (hai) bao ni long màu đen và 01 (một) bao gai màu xanh đã qua sử dụng, đã bị mở trong quá trình kiểm tra, được niêm phong trong 01 (một) thùng giấy cát tông, ký hiệu: V2 là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
Đối với 01 (một) giấy phép lái xe hạng FC số 490101000520 mang tên Trần Thanh V, do Sở Giao thông vận tải tỉnh Quảng Nam cấp ngày 31/5/2023; 01 (một) hộ chiếu số P03292060 mang tên Trần Thanh V, do Cục Quản lý xuất nhập cảnh - Bộ Công an cấp ngày 28/3/2024; 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Galaxy, màu xanh đen, bên trong khe sim có gắn 02 thẻ sim, trong đó: khe sim 01 gắn một thẻ sim có ký tự: 4G mobifone 8401240433004330; khe sim 02 gắn một thẻ sim có ký tự: Unitel SIM Net 8945703002131267245 là tài sản của bị cáo, không liên qua đến hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hướng Hóa (cũ) và Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa đã trả lại cho bị cáo là đúng quy định pháp luật.
Đối với 01 (một) xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 43H-054.**, nhãn hiệu CHENGLONG,
số
loại:
LZ4255H7DB,
số
máy: YC6MK42050MX1L6M02381, số khung: LGGG4DY35ML329583, cùng với 01 thiết bị giám sát hành trình tích hợp đầu ghi camera màu đen (Model: TMS-CAM2-NDD10) kèm hệ thống camera, dây kết nối; 01 (một) sơ mi rơ moóc BKS 43R-025.**, nhãn hiệu: MINGWEI, số loại: NHG9350TJZGUA, số khung: LJT93VGJXG0011644; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 43 010287, tên chủ xe: Công ty TNHH KDVT TMT, do Công an thành phố Đà Nẵng cấp ngày 23/4/2024; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký rơ moóc, sơ mi rơ moóc số 003133, tên chủ xe: Công ty TNHH KDVT TMT, do Công an thành phố Đà Nẵng cấp ngày 09/8/2019; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định số EB 0596641 do Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới 43-03D, cấp ngày 25/4/2024; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định số EB-0598395 do Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới Hòa Cầm 43-04D - Chi nhánh Công ty cổ phần kỹ thuật ĐBL thành phố Đà Nẵng cấp ngày 18/7/2024; 01 (một) giấy phép liên vận giữa Việt Nam và Lào số 2250, do Sở Giao thông vận tải thành phố Đà Nẵng cấp ngày 09/5/2024. 01 (một) giấy phép liên vận giữa Việt Nam và Lào số 03, do Sở Giao thông vận tải thành phố Đà Nẵng cấp ngày 03/01/2024 thuộc sở hữu của Công ty TNHH kinh doanh vận tải TMT, Công ty TNHH kinh doanh vận tải TMT không biết việc bị cáo sử dụng xe ô tô của mình để thực hiện hành vi phạm tội và không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên việc Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Hướng Hóa (cũ) đã trả lại cho Công ty TNHH kinh doanh vận tải TMT theo Biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 18/12/2024, và ngày 07/02/2025 là đúng quy định pháp luật.
Đối với 01 (một) Container loại 40ft, số YMMU6117331, đã qua sử dụng; bên trong đựng các cuộn giấy tái chế, trọng lượng: 24.960 kg không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho Công ty cổ phần đại lý vận tải SAFI theo Biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 18/12/2024 là đúng quy định pháp luật.
Các vấn đề khác của vụ án:
Đối với người phụ nữ đã bán pháo hoa nổ cho bị cáo Trần Thanh V vào ngày 02/12/2024, chưa xác định được lai lịch, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Trị tiếp tục điều tra, làm rõ.
Công ty TNHH kinh doanh vận tải TMT không biết việc bị cáo Trần Thanh V dùng xe ô tô ô tô đầu kéo BKS 43H-054.40 và sơ mi rơ moóc số BKS 43R-025.59 của mình để làm phương tiện vận chuyển pháo nên không phải chịu trách nhiệm pháp lý.
Về trách nhiệm dân sự: Công ty TNHH kinh doanh vận tải TMT không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo Trần Thanh V nên không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Thanh V phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 35; khoản 3 Điều 54 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thanh V 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu).
2. Áp dụng khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự: Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 10/2025/HSST-LCĐKNCT ngày 04/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy số pháo còn lại sau giám định gồm 01 (một) hộp pháo hoa nổ, vỏ ngoài hộp bọc giấy nhiều mắc sắc có ký hiệu C1759C được niêm phong trong 01 thùng giấy, ký hiệu V1, có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị.
Vật chứng đang có tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Trị theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày28/3/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Trị và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hướng Hóa.
Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) bao ni long màu đen và 01 (một) bao gai màu xanh đã qua sử dụng.
Vật chứng nêu trên hiện đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị quản lý và có đặc điểm được mô tả theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28/3/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Trị và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hướng Hóa.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trần Thanh Vũ phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (08/4/2025)./.
| Nơi nhận: - TAND T. Quảng Trị; - VKSND T. Quảng Trị; - VKSND H. Hướng Hóa; - Công an tỉnh Quảng Trị; - Chi cục THADS H. Hướng Hóa; - Cơ quan Thi hành án hình sự; - Bị cáo; - NCQLNVLQ; - Tổ HCTP; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quang Sơn |