- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh N phạm tội “Cố ý gây thương tích” - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật s…"
- Tòa quyết gì? Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Thanh N phải chịu 200.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2025/HS-PT Ngày: 19/3/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Giang
Các Thẩm phán: Ông Đặng Minh Tuân
Ông Dương Văn Bản
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Khánh Tùng – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Đinh Thị Thu Huyền – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại Hội trường xét xử Toà án nhân tỉnh Thái Nguyên xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm, thụ lý số 08/2025/TLPT-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025, do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh N đối với bản án hình sự sơ thẩm số 194/2024/HSST ngày 23/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
* Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Thanh N; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 01/11/1989. Giới tính: Nam; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ dân phố D, phường C, thành phố P, tỉnh Hà Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông Nguyễn Văn T và bà Bùi Thị P; vợ là Hoàng Thị H và có 02 con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
Ngày 19/4/2019 bị Công an thành phố P, tỉnh Hà Nam, xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại đến sức khỏe của người khác theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 102A/QĐ-XPVPHC, với số tiền là 2.500.000 đồng, bị cáo đã chấp hành xong.
Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 163/QĐ-XPHC ngày 17/10/2024 của Công an thành phố P, tỉnh Thái Nguyên xử phạt bị cáo 2.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc trái phép, bị cáo đã chấp hành xong.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/6/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 25/6/2024, Nguyễn Thanh N cùng Hoàng Văn Đ và Trần Việt H1, đến ăn tối tại nhà anh Hoàng Văn T1. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, sau khi ăn xong, H1, N, Đ rủ nhau sang nhà Đ đánh bạc. Khi sang nhà Đ, N đưa 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) cho cháu Hoàng Thị T2 (sinh năm 2012, là con gái của Đ) nhờ cháu T2 đi mua 02 bộ tú lơ khơ cho N và bảo cháu T2 thích ăn gì thì mua mà ăn. Cháu T2 cầm tiền đi mua 02 bộ tú lơ khơ hết 20.000đ (Hai mươi nghìn đồng) và mua bim bim hết 20.000 đồng (Hai mươi nghìn đồng) rồi mang về nhà đưa cho N 02 bộ tú lơ khơ và 460.000 đồng (Bốn trăm sáu mươi nghìn đồng). Sau đó, N, H1, Đ trải 01 chiếu nhựa ra phòng khách nhà Đ và sử dụng 01 bộ tú lơ khơ đánh bạc bằng hình thức “ba cây” được thua bằng tiền. Đến khoảng hơn 22 giờ cùng ngày, trong một ván bạc, H1 cầm chương, N nói với H1 “chống cửa năm mươi nghìn” (ý là người thua phải trả người thắng 50.000 đồng). Tuy nhiên, sau khi chia bài, N thắng nhưng H1 chỉ trả Nguyên 20.000 đồng (Hai mươi nghìn đồng). N nói “đánh hết cầu chương như thế” (ý là H1 phải trả Nguyên 50.000 đồng) thì H1 nói “ưa thì ưa, không ưa thì thôi”. Ngay lúc đó, N bực tức nên đứng dậy, dùng chân phải đá 01 (một) cái vào vùng mặt và vùng đầu bên trái của H1 làm H1 ngã ngửa ra nền nhà. Thấy vậy, Đ đứng dậy can ngăn N rồi cúi xuống lấy tiền đánh bạc của mình đút vào túi, N cũng lấy tiền đánh bạc của N cho vào ví rồi lấy áo ra về. Lúc này Đ thấy H1 nằm bất tỉnh nên đã gọi anh T1 đưa H1 đi cấp cứu tại Trung tâm y tế thành phố P, nhưng khi đưa đến cấp cứu thì H1 được xác định đã tử vong. Sau đó Đ nhờ anh T1 về nhà tháo camera giám sát lắp trong phòng khách nhà Đ để tránh việc đánh bạc bị phát hiện. Anh T1 đến nhà Đ tháo camera giám sát lắp tại phòng khách nhà Đ và cất giấu tại phòng ngủ của cháu T2. Đến 04 giờ ngày 26/6/2024, sau khi biết thông tin anh H1 tử vong, N đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi của mình.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã tiến hành khám nghiệm hiện trường và thu giữ: 07 lá bài lơ khơ, niêm phong ký hiệu “B”; 01 chiếc chiếu nhựa, niêm phong ký hiệu “C”; 01 camera màu trắng, nhãn hiệu HIKVISION và 02 dây dẫn đầu nối với camera, niêm phong ký hiệu “CM”. Cùng ngày 26/6/2024, cháu Hoàng Thị T2 (con gái của Hoàng Văn Đ) đã giao nộp cho Cơ quan điều tra 48 là bài tú lơ khơ cùng bộ với 07 lá bài trên, niêm phong ký hiệu “B1”; Nguyễn Thanh N giao nộp 320.000 đồng và Hoàng Văn Đ giao nộp 640.000 đồng là số tiền N, Đ, H1 dùng để đánh bạc vào tối ngày 25/6/2024, ngoài ra Hoàng Văn Đ giao nộp 01 đĩa CD bên trong lưu 02 tệp video.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P tiến hành mở niêm phong kiểm tra vật chứng đã thu giữ được và niêm phong lại theo quy định.
Kiểm tra đĩa CD bên trong có 02 tệp video do Hoàng Văn Đ giao nộp, kết quả: Video tên 626221655869505722.mp4 ghi nhận hình ảnh 03 người người nam giới là H1, N và Đ đang đánh bạc, sát phạt nhau bằng tiền thì N dùng chân đá 01 (một) cái vào vùng mặt và vùng đầu anh H1 làm H1 ngã ra đất và bất tỉnh. Video tên 875204636077940705.mp4 ghi nhận hình ảnh N sau khi đánh H1 và bỏ đi.
Kết luận giám định tử thi số 887/KLGĐTT-KTHS ngày 02/8/2024 của Phòng K - Công an tỉnh T, kết luận: Trần Việt H1 bị chấn thương sọ não, xuất huyết dưới nhện, chảy máu não thất, xuất huyết tụ máu quanh thân não, dập não và phù não, gây tổn thương thần kinh trung ương dẫn đến chết.
Kết luận giám định hóa pháp số 1816/PY-XNĐH ngày 15/7/2024 của V – Cục Q, kết luận: Không tìm thấy các chất độc trong mẫu máu, phủ tạng, chất chứa dạ dày của Trần Việt H1.
Kết luận giám định mô bệnh học số 244/2024/KLMBH-PY ngày 16/7/2024 của V – Cục Q, kết luận: Xuất huyết khoang dưới nhện, dập não và phù não, gan thoái hóa mỡ, các tạng sung huyết.
Kết luận giám định số 797A/KL-KTHS ngày 05/7/2024 của phòng K - Công an tỉnh T, kết luận: Số tiền gửi giám định trong phong bì ký hiệu T1, T2 là tiền thật .
Quá trình điều tra Nguyễn Thanh N đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như nêu trên, Nguyên khai do mâu thuẫn bực tức trong việc đánh bạc ăn tiền giữa N và anh Trần Việt H1 nên không kiểm soát được hành vi đã dùng chân đá 01 cái vào vùng đầu anh H1, dẫn đến anh H1 bị tử vong. Bản thân N không có mục đích tước đoạt tính mạng của anh H1 từ trước và khi đá 01 cái vào vùng đầu anh H1 thì chỉ nghĩ anh H1 bị choáng, không ảnh hưởng đến tính mạng nên mới bỏ đi. Lời khai nhận của N phù hợp với lời khai của người làm chứng, dấu vết thương tích trên cơ thể của bị hại, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Quá trình giải quyết vụ án, gia đình Nguyễn Thanh N đã bồi thường cho gia đình anh Trần Việt H1 số tiền 140.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi triệu đồng). Đại diện hợp pháp của người bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường 400.000.000 đồng.
Các vật chứng trên được chuyển đến tài khoản và kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên chờ xử lý;
- 01 CD lưu 02 tập tin video ghi lại hình ảnh vụ việc, do Hoàng Văn Đ giao nộp, niêm phong ký hiệu “D1” kèm theo hồ sơ vụ án.
Tại bản án sơ thẩm số 194/2024/HSST ngày 23/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã xét xử bị cáo Nguyễn Thanh N về phạm tội “ Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng: Điểm a khoản 4 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh N 10 (mười) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính ngày tạm giam 26/6/2024.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn giải quyết về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Ngày 03/01/2025, bị cáo Nguyễn Thanh N kháng cáo xin giảm hình phạt.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện như bản án sơ thẩm đã nêu. Bản án sơ thẩm xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên, hình phạt đối với bị cáo là cao, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu quan điểm về vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật. Bị cáo còn là người có nhân thân xấu đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại đến sức khỏe của người khác, hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Toà án cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết giảm nhẹ do bị cáo đầu thú quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có hành vi đá vào đầu bị hại là vùng trọng yếu trên cơ thể do phát sinh nguyên cớ nhỏ nhặt từ hành vi vi phạm trong việc đánh bạc giữa bị cáo và bị hại, hậu quả rất nghiêm trọng dẫn đến chết người, hành vi của bị cáo có tính chất côn đồ, bị cáo phải chịu tình tiết tặng nặng “Phạm tội có tính chất côn đồ” quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, vợ bị cáo và đại diện hợp pháp của người bị hại đã tự thoả thuận được vấn đề bồi thường. Đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, vì vậy có căn cứ để cho bị cáo hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Từ phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh N xin giảm nhẹ hình phạt; Sửa bản án sơ thẩm về việc áp dụng điều luật về tình tiết tăng nặng “Phạm tội có tính chất côn đồ” theo điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự và tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội đầu thú” theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.
Trước khi Hội đồng xét xử nghị án. Bị cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh N gửi trong thời hạn và đúng theo thủ tục quy định nên được xem xét theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.
. Căn cứ lời khai của bị cáo trong qúa trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:
Ngày 25/6/2024, Nguyễn Thanh N cùng Hoàng Văn Đ và Trần Việt H1, đến ăn tối tại nhà anh Hoàng Văn T1. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, sau khi ăn xong, H1, N, Đ rủ nhau sang nhà Đ để đánh bạc được thua bằng tiền, sử dụng bộ bài tú lơ khơ để đánh bạc dưới hình thức “ba cây”. Đến khoảng hơn 22 giờ cùng ngày, khi H1 cầm chương, N nói với H1 “chống cửa năm mươi nghìn” (ý là người thua phải trả người thắng 50.000 đồng). Tuy nhiên, sau khi chia bài, N thắng nhưng H1 chỉ trả Nguyên 20.000 đồng (Hai mươi nghìn đồng). N nói “đánh hết cầu chương như thế” (ý là H1 phải trả Nguyên 50.000 đồng) thì H1 nói “ưa thì ưa, không ưa thì thôi”. Ngay lúc đó, N bực tức nên đứng dậy, dùng chân phải đá 01 (một) cái vào vùng mặt và vùng đầu bên trái của H1 làm H1 ngã ngửa ra nền nhà. Độ thấy H1 nằm bất tỉnh nên đã gọi anh T1 đưa H1 đi cấp cứu tại Trung tâm y tế thành phố P, nhưng khi đưa đến cấp cứu thì H1 được xác định đã tử vong. Đến 04 giờ ngày 26/6/2024, sau khi biết thông tin anh H1 tử vong, N đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi của mình.
Với hành vi trên, bị cáo Nguyễn Thanh N bị tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 4 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật. Áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả” và “người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là đúng pháp luật. Tuy nhiên, chưa đánh giá hết tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo. Cụ thể: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã đến Công an thành phố P “đầu thú”, nhưng toà án cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết này quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Ngoài ra, bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn gì trước đó, do hành vi vi phạm pháp luật khác của cả bị cáo và người bị hại, bị cáo đã tấn công vào vùng mặt, đầu của người bị hại là vùng trọng yếu trên cơ thể, dẫn đến người bị hại đã tử vong, hành vi bị cáo đã thực hiện là “phạm tội có tính chất côn đồ”, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Toà án cấp sơ thẩm không xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ nêu trên đối với bị cáo là thiếu sót.
Trong vụ án này bị cáo Nguyễn Thanh N, Hoàng Văn Đ và Trần Việt H1 có hành vi đánh bạc, số tiền dùng để đánh bạc chưa đủ định lượng theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, Trần Việt H1 đã chết, Cơ quan điều tra không xử lý. Còn đối với Nguyễn Thanh N, Hoàng Văn Đ đều chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc. Cơ quan điều tra xử phạt hành chính là đúng quy định của pháp luật.
Đối với hành vi tháo camera của Hoàng Văn T1, khi T1 được Đ nhờ tháo để tránh bị Cơ quan điều tra phát hiện hành vi đánh bạc. Hành vi này của T1 và Đ không đủ yếu tố cấu thành tội phạm, nhưng gây cản trở cho quá trình điều tra, thu thập chứng cứ để giải quyết vụ án. Cơ quan điều tra đã xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định của pháp luật.
[3]. Xét kháng cáo của bị cáo: Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất vụ án, hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo 10 năm tù là phù hợp và có căn cứ.
Sau khi xét xử sơ thẩm, gia đình bị cáo và đại diện theo pháp luật của bị hại đã tự thoả thuận được với nhau về việc bồi thường thiệt hại về sức khoẻ, tính mạng (Nhưng không rõ thoả thuận, số tiền), đồng thời đại diện theo pháp luật của bị hại có đơn xin giảm hình phạt cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới. Do vậy, bị cáo được hưởng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Với những nhận định như trên. Mặc dù bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhưng bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bên cạnh đó, bản thân bị cáo là người có nhân thân xấu bị xử phạt hành chính về hành vi xâm hại sức khoẻ của người khác, hành vi mà bị cáo đã thực hiện lần này là nguy hiểm cho xã hội, hậu quả do hành vi bị cáo đã gây ra là rất lớn (làm chết người), gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Do vậy, không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt tù của bị cáo, cần giữ nguyên mức hình phạt như cấp sơ thẩm đã tuyên để bảo đảm tính giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận
. Về án phí: Kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị. Hội đồng xét xử không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt tù của bị cáo Nguyễn Thanh N, giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt tù đối với bị cáo. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, sửa phần áp dụng điều luật đối với bị cáo Nguyễn Thanh N tại bản án sơ thẩm số 194/2024/HSST ngày 23/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
Áp dụng điểm a, khoản 4 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 347 Bộ luật tố tụng hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh N 10 (mười) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn tù tính từ ngày 26/6/2024.
Căn cứ Điều 347 Bộ luật tố tụng hình sự, quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để bảo đảm thi hành án.
2. Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Thanh N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm số 194/2024/HSST ngày 23/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND T. Thái Nguyên; - VKSND TP. Phổ Yên; - TAND TP. Phổ Yên; - Chi cục THADS TP. Phổ Yên; - Công an TP. Phổ Yên; - Sở Tư pháp T. Thái Nguyên; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Hoàng Văn Giang |