vanban.org

Bản án 20/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Cà Mau Tuyên án 25/04/2025 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Hồng C.

Về hôn nhân: Bà Trần Hồng C được ly hôn ông MENG, F. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Hồng C-MengF"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Hồng C.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2025/HNGĐ-ST
Ngày 25 - 4 - 2025
(V/v Tranh chấp xin ly hôn)

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Cẩm Đào

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Dương Thành Công

Ông Phạm Văn Đông

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thuý An là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Hữu Duy Khánh – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 41/2024/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Hồng C, sinh năm 1999 (có mặt).

Địa chỉ: Khóm 5, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Bị đơn: Ông MENG, F, sinh năm 1999 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số 300, Mạnh Trang thôn, thôn hành chính Mạnh Trang, thị trấn Hồng Thuyền, huyện Quyên Thành, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Bà Trần Hồng C trình bày: Bà và ông MENG, F kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Cà Mau vào ngày 02/4/2024. Quá trình chung sống giữa vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng ngôn ngữ, văn hóa và quan điểm sống, tính cách không phù hợp nhau. Nhận thấy hôn nhân không còn hạnh phúc, nay bà yêu cầu Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông MENG, F. Về con chung, tài sản chung và nợ chung đều không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Bị đơn ông MENG, F đã được Tòa án thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về thời gian mở phiên họp, hòa giải và phiên tòa, nhưng đến nay ông MENG, F không có văn bản phản hồi thể hiện ý kiến đối với yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Hồng C.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Về tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, đương sự tuân thủ các quy định của pháp luật. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình về việc xin ly hôn, nguyên đơn bà Trần Hồng C hiện đang cư trú tại huyện T, tỉnh Cà Mau; bị đơn ông MENG, F đang sinh sống tại Trung Quốc nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau theo quy định tại Điều 28, 37 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn ông MENG, F đã được Tòa án thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về thời gian mở phiên họp, hòa giải và phiên tòa nhưng ông MENG, F vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do. Căn cứ vào các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông MENG, F là phù hợp.

Về quan hệ hôn nhân

Hôn nhân của bà Trần Hồng C và ông MENG, F được xác lập trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Cà Mau vào ngày 02/4/2024 nên hôn nhân của ông, bà là hợp pháp theo quy định tại các Điều 8, 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Quá trình giải quyết vụ án, bà Trần Hồng C giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với ông MENG, F. Đối với ông MENG, F, mặc dù đã nhận được thông báo thụ lý vụ án, thông báo về thời gian mở phiên họp hòa giải, phiên tòa nhưng ông MENG, F cũng không có văn bản gửi về cho Tòa án thể hiện ý kiến đối với yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Hồng C, điều này thể hiện ý chí của ông MENG, F cũng không phản đối yêu cầu của bà Trần Hồng C.

Xét thấy, về điều kiện thực tế, hiện nay ông MENG, F sống ở Trung Quốc, bà Trần Hồng C sống tại Việt Nam. Tại phiên tòa, bà Trần Hồng C cũng xác định, sau khi kết hôn thì bà và ông MENG, F không còn liên lạc với nhau cho đến nay. Điều đó cho thấy hôn nhân của ông bà không có sự gắn kết, chia sẻ, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục xây dựng hạnh phúc gia đình, mục đích hôn nhân không đạt. Do đó, căn cứ quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Hồng C, cho bà Trần Hồng C được ly hôn với ông MENG, F, là phù hợp.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà Trần Hồng C xác định không có, không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Trần Hồng C phải chịu theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Các Điều 147, 153, 227, 228, 469, 470, 474, 477, 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Hồng C.

1. Về hôn nhân: Bà Trần Hồng C được ly hôn ông MENG, F.

2. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Trần Hồng C phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Ngày 13/6/2024, bà Trần Hồng C đã nộp tạm ứng số tiền 300.000 đồng (lai thu số 0000181) tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau được chuyển thu.

4. Về chi phí ủy thác tư pháp: Bà Trần Hồng C phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng). Ngày 26/6/2024, bà Trần Hồng C đã nộp tạm ứng chi phí số tiền 200.000 đồng (lai thu số 0000192) tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau được chuyển thu.

5. Về quyền kháng cáo: Bà Trần Hồng C được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ông MENG, F được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ