- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị T khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh D"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Trần Hồng T ly hôn với anh Nguyễn Văn D.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CÀ MAU ————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2025/HNGĐ-ST Ngày 17-7-2025. V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Hồng Huệ.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Hoàng Giang.
Ông Nguyễn Minh Trọn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Tú là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau.
Ngày 17 tháng 7 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 208/2025/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2025 về Ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Hồng T, sinh năm 1978 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Khóm A, xã Cái Đôi Vàm, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1975 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Khóm A, xã Cái Đôi Vàm, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 11 tháng 6 năm 2025 cùng các văn bản khác kèm theo, nguyên đơn chị Trần Hồng T trình bày: Vào năm 1999 chị và anh Nguyễn Văn D kết hôn, đến ngày 07/5/2002 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Hưng, tỉnh Cà Mau. Trong quá trình chung sống giữa chị và anh D đã xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống nên thường cự cải, cuộc sống hôn nhân giữa chị và anh D không còn hạnh phúc, mâu thuẫn giữa vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn, do đó chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn D. Về con chung, có hai người tên là Nguyễn Tuấn K (giới tính nam), sinh năm 2000 và Nguyễn Gia H (giới tính nam), sinh ngày 31 tháng 3 năm 2009. Đối với Nguyễn Tuấn K hiện đã thành niên và có khả năng tự lao động nên không yêu cầu giải quyết. Riêng Nguyễn Gia H do chị trực tiếp nuôi dưỡng nên khi ly hôn chị yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng, không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung tự thỏa thuận và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 15 tháng 6 năm 2025 thì bị đơn anh Nguyễn Văn D trình bày: Về thời gian kết hôn, có đăng ký kết hôn, mâu thuẫn đúng như chị T đã khai. Nay cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc nên anh đồng ý ly hôn. Con chung, anh chấp nhận giao con chung tên Nguyễn Gia H cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung tự thỏa thuận và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Việc chị T khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh D là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn anh D cư trú tại Khóm A, xã Cái Đôi Vàm, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị T và anh D vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để tiến hành xét xử vắng mặt chị T và anh D là đúng theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hôn nhân, chị T và anh D kết hôn và có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên hôn nhân giữa chị T và anh D là hôn nhân hợp pháp. Chị T yêu cầu ly hôn với anh D vì chị T cho rằng quá trình chung sống giữa chị T và anh D đã xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống nên thường cự cải, cuộc sống hôn nhân giữa chị T và anh D không còn hạnh phúc, mâu thuẫn giữa chị T và anh D đã trầm trọng mà không hàn gắn, đoàn tụ được nên chị T ly hôn và được anh D đồng ý. Điều đó cho thấy tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh D đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chấp nhận cho chị T ly hôn với anh D là có căn cứ đúng theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung, có hai người tên là Nguyễn Tuấn K (giới tính nam), sinh năm 2000 và Nguyễn Gia H (giới tính nam), sinh ngày 31 tháng 3 năm 2009. Đối với Nguyễn Tuấn K hiện đã thành niên và có khả năng tự lao động nên không đặt ra xem xét. Chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng Nguyễn Gia H và anh D cũng đồng ý với yêu cầu của chị T. Xét thấy, Nguyễn Gia H hiện do chị T là người trực tiếp nuôi dưỡng, do đó nhằm để ổn định về điều kiện môi trường sống và đảm bảo sự phát triển bình thường của con chưa thành niên, từ đó giao cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Chị T không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét.
Chị T và anh D xác định tài sản chung tự thỏa thuận và nợ chung không có nên không đặt ra xem xét.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, chị T phải chịu theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Áp dụng các Điều 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Trần Hồng T ly hôn với anh Nguyễn Văn D.
2. Về con chung, chị Trần Hồng T trực tiếp nuôi dưỡng Nguyễn Gia H (giới tính nam), sinh ngày 31 tháng 3 năm 2009. Anh Nguyễn Văn D không cấp dưỡng nuôi con.
Anh Nguyễn Văn D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, chị Trần Hồng T phải chịu 300.000 đồng nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004224, ngày 13 tháng 6 năm 2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 - Cà Mau nên chị Trần Hồng T đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3-Cà Mau; - Ủy ban nhân dân xã Tân Hưng, tỉnh Cà Mau; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Hồng Huệ |