- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, nuôi con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Ngọc L.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC A – VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2025/HNGĐ-ST Ngày 26-8-2025 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC A – VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Kim Thị Hồng Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Sinh
2. Ông Dương Văn Thanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Trung, là Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực A – Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực A – Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Trương Thanh Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực A – Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 146/2025/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2025 về việc: Ly hôn và tranh chấp quyền nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 28/2025/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Hoàng Ngọc L, sinh ngày 01/02/1983.
Địa chỉ: ấp X, xã L, huyện D, tỉnh Trà Vinh (nay là ấp X, xã L, tỉnh Vĩnh Long).
Chỗ ở: Phố C, ấp D, số nhà A xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (nay là Phố
C, ấp D, số nhà A, xã Đ, tỉnh Đồng Nai). Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt
- Bị đơn: Ông Dương Thái P, sinh năm 1980
Địa chỉ: ấp X, xã L, huyện D, tỉnh Trà Vinh (nay là ấp X, xã L, tỉnh Vĩnh Long). Vắng mặt không lý do.
- Con chung: Cháu Dương Tuấn K, sinh ngày 24/7/2008
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện ngày 04 tháng 02 năm 2025 nguyên đơn bà Hoàng Ngọc L trình bày, yêu cầu:
Về hôn nhân, bà và ông Dương Thái P quen biết nhau và đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện D, tỉnh Trà Vinh (nay là Ủy ban nhân dân xã L, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 28/5/2008. Sau khi hết hôn thời gian đầu hạnh phúc, nhưng về sau phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không thể hoà giải được, hai người đã sống ly thân từ tháng 10 năm 2024 do mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu ly hôn.
Về con chung, bà và ông Dương Thái P có con chung tên Dương Tuấn K sinh ngày 24/7/2008, bà yêu cầu nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000đ đến khi con đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung và nợ chung, không có nên bà không yêu cầu.
Tại đơn thay đổi nội dung khởi kiện ngày 29 tháng 7 năm 2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Hoàng Ngọc L cho rằng:
Bà vẫn giữ yêu cầu ly hôn với ông Dương Thái P nguyên nhân do sau khi kết hôn trong năm 2007 thì bà và ông P sinh sống và làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh, đến khoảng năm 2022 bà được bạn bè, người quen cho biết ông P bắt đầu có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác quê ở Sóc Trăng. Vì công việc không thuận lợi nên khoảng tháng 9 năm 2023 bà và ông P về quê ấp X, xã L, huyện D, tỉnh Trà Vinh (nay là ấp X, xã L, tỉnh Vĩnh Long) làm ăn, nhưng được khoảng một tháng thì ông P trở lại Thành phố Hồ Chí Minh và sinh sống chung người phụ nữ đó và từ đó bà và ông P không còn sống chung đến nay, thỉnh thoảng ông P mới về quê thăm con. Nay tình cảm vợ chồng không hàn gắn được nên bà không yêu cầu đoàn tụ.
Bà và ông Dương Thái P có con chung là Dương Tuấn K sinh ngày 24/7/2008, bà thay đổi ý kiến là không yêu cầu nuôi con và cũng không yêu cầu cấp dưỡng cho con như đơn khởi kiện ban đầu, mà đồng ý giao con cho ông P nuôi theo nguyện vọng của con. Vì hiện nay con đang ở quê nhà ông P tại ấp X, xã L, tỉnh Vĩnh Long và do ông P nuôi dưỡng để tiện việc học. Sau khi học xong lớp 12 con sẽ lên học đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh và bà sẽ chăm sóc, nuôi dưỡng con học tiếp đại học, ông P không yêu cầu bà cấp dưỡng cho con, nhưng mỗi tháng bà đều có phụ tiền lo cho con ăn, học.
Tài sản chung, nợ chung, bà vẫn khai xác nhận không có nên không yêu cầu chia hoặc tranh chấp gì khác.
Bị đơn ông Dương Thái P vắng mặt tham gia tố tụng nên không có lời trình bày, yêu cầu.
Tại ý kiến của cháu Dương Tuấn K sinh ngày 24/7/2008 (đủ 07 tuổi trở lên) trình bày nguyện vọng như sau: Cháu tự nguyện yêu cầu được ở với cha là ông Dương Thái P khi cha mẹ ly hôn.
Phát biểu của Kiểm sát viên:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán về việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử và việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa sơ thẩm đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nhưng về thời hạn chuẩn bị xét xử chưa đảm bảo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ tham gia tố tụng thep quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn đã được thông báo các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng chưa thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ tham gia tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án:
Bà L và ông P tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo quy định, thì đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình sống chung do ông P ngoại tình, không chung thủy và hai người đã ly thân hơn hai năm nay nên bà L yêu cầu ly hôn là có căn cứ theo điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Con chung Dương Tuấn K sinh ngày 24/7/2008 hiện sinh sống chung ông P và cha mẹ ruột ông P nên giao cho ông P nuôi dưỡng là đúng nguyện vọng của con, bà L không tự nguyện cấp dưỡng và ông P cũng không yêu cầu nên không xem xét.
Tài sản chung, nợ chung không có nên không xem xét.
Từ đó nên đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà L được ly hôn với ông P; Giao con chung Dương Tuấn K cho ông P nuôi dưỡng; Về cấp dưỡng, bà L không tự nguyên cấp dưỡng và ông P không yêu cầu nên sau ly hôn ông P được khởi kiện về cấp dưỡng cho con theo quy định nếu có yêu cầu; Về tài sản chung, nợ chung không có nên đề nghị không xem xét giải quyết; Về án phí, buộc bà L chịu án phí ly hôn theo quy định.
Những yêu cầu, kiến nghị đề nghị cần khắc phục: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Bà Hoàng Ngọc L khởi kiện ông Dương Thái P có nơi cư trú tại ấp X, xã L, huyện D, tỉnh Trà Vinh (nay là ấp X, xã L, tỉnh Vĩnh Long), nội dung yêu cầu ly hôn và yêu cầu nuôi con, cấp dưỡng cho con. Nhưng tại đơn thay đổi, bổ sung đơn khởi kiện bà L rút lại phần yêu cầu cấp dưỡng cho con và đồng ý giao con cho ông P nuôi sau ly hôn. Căn cứ vào khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35 và điểm a khoản 1 điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025, Toà án nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh (nay là Toà án nhân dân Khu vực A – Vĩnh Long) thụ lý, giải quyết vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và xác định tư cách đương sự là đúng quy định.
Sự vắng mặt của nguyên đơn bà Hoàng Ngọc L là có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Đối với bị đơn ông Dương Thái P là vắng mặt không lý do. Nhận thấy, ông Dương Thái P đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên toà đến lần thứ hai mà vắng mặt, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, căn cứ vào điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025, vẫn tiến hành xét xử vắng mặt tất cả người tham gia tố tụng.
Tại đơn khởi kiện và các lời khai của đương sự cho thấy, bà Hoàng Ngọc L và ông Dương Thái P kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn, được thể hiện tại giấy chứng nhận kết hôn số 58, quyển 01 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện D, tỉnh Trà Vinh (nay là xã L, tỉnh Vĩnh Long) vào ngày 28/5/2008 (bút lục 05) nên hôn nhân của họ là hợp pháp.
Bà Hoàng Ngọc L cho rằng do vợ chồng xảy ra mâu thuẫn không thể hàn gắn nên yêu cầu ly hôn. Trước khi đưa vụ án ra xét xử, Toà án đã có thông báo hoà giải nhằm tạo điều kiện để vợ chồng đoàn tụ, mà ông Dương Thái P vắng mặt, Toà án có động viên, giải thích, đồng thời thuyết phục bà L hàn gắn tình nghĩa vợ chồng mà không thành, bà kiên quyết giữ yêu cầu ly hôn và không yêu cầu nuôi con. Đối với ông Dương Thái P có biết việc bà L khởi kiện mà không có văn bản phản đối hoặc đưa ra ý kiến hay yêu cầu của mình trong vụ án, tại thời điểm xét xử hai người không còn sống chung và bà Hoàng Ngọc L không yêu cầu đoàn tụ, điều này thể hiện mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình có cơ sở chấp nhận cho bà Hoàng Ngọc L và ông Dương Thái P ly hôn.
Đối với con chung cháu Dương Tuấn K sinh ngày 24/7/2008, qua giấy khai sinh (bút lục 04) thể hiện cháu K đã đủ từ 07 tuổi trở lên và có ý kiến trình bày nguyện vọng tự nguyện yêu cầu ở với ông P (bút lục 35). Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã có giải thích quy định của pháp luật về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con tại các điều 82, 83, 107 và điều 110 của Luật hôn nhân và gia đình. Nhận thấy, căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con chung, nguyện vọng của cháu K và xác minh tại địa phương (bút lục 23) thời điểm xét xử vụ án, cháu K do ông P và cha ông P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trong điều kiện đáp ứng các nhu cầu thiết yếu, bà L cũng không có ý kiến phản đối nên có cơ sở giao cháu K cho ông P trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục sau ly hôn. Sau ly hôn người trực tiếp nuôi con có quyền khởi kiện yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Quyền, nghĩa vụ đối với tài sản chung, quá trình giải quyết vụ án bà Hoàng Ngọc L khai xác nhận không có, đồng thời ông Dương Thái P không có văn bản phản đối hoặc đưa ra yêu cầu tranh chấp gì khác nên không xem xét, giải quyết.
Phát biểu của Kiểm sát viên cho rằng, vụ án chưa đảm bảo về thời hạn xét xử tại Điều 203 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025. Nhận thấy, phát biểu của Kiểm sát viên là đúng nên Thẩm phán cần nghiêm túc rút nghiệm và khắc phục triệt để. Đối với phát biểu đề nghị việc giải quyết vụ án là có cơ sở, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên có căn cứ chấp nhận.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 238 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng điểm a khoản 5 điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Ngọc L.
1. Về hôn nhân:
Cho bà Hoàng Ngọc L ly hôn với ông Dương Thái P.
2. Về quyền, nghĩa vụ đối với con chung:
Giao cháu Dương Tuấn K sinh ngày 24/7/2008 cho ông Dương Thái P trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, nguyện vọng của cháu K cũng yêu cầu ở với ông P.
Về cấp dưỡng cho con: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết (sau khi ly hôn người trực tiếp nuôi con được quyền khởi kiện yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự).
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được ngăn cản. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về quyền, nghĩa vụ tài sản chung: Đương sự khai xác nhận không có, không yêu cầu chia hoặc tranh chấp gì khác nên không giải quyết.
4. Về án phí:
Buộc bà Hoàng Ngọc L chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn 300.000 đồng và được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng, theo biên lai thu tiền số: 0014562 ngày 04/02/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực A – Vĩnh Long) nên không phải nộp tiếp.
Ông Dương Thái P không phải chịu án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày niêm yết bản án hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền, nghĩa vụ của người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long; - VKSND Khu vực A – Vĩnh Long; - THADS tỉnh Vĩnh Long; - UBND xã nơi ĐKKH; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Kim Thị Hồng Nga |