- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Đ:
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2025/HNGĐ-ST Ngày: 29-8-2025 V/v “Ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Hoài Nam Phương.
Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông Nguyễn Kiên Hiển
2. Bà Đặng Thị Ngọc Hằng
Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Nhật Lan Anh -Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2025 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Khu vực 1, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai theo thủ tục sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 543/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 6/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2025/QĐST-HN ngày 07 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc Đ, sinh năm 1986.
Hộ khẩu thường trú: 45/2 thôn T, phường X - Đ (trước đây là xã X, thành phố Đ), tỉnh Lâm Đồng. (có đơn xin vắng mặt)
- Bị đơn: ông Cao Huy C, sinh năm 1979. (vắng mặt)
Hộ khẩu thường trú: 150/16/10 L, phường X (trước đây phường V, Quận C), Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn ly hôn đề ngày 04/11/2024, bản tự khai, và các biên bản hòa giải trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Đ trình bày:
Bà và ông Cao Huy C tự nguyện đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 76, quyển số 01 ngày 18/7/2012 tại U, Quận C, (nay là Ủy ban nhân dân phường X), Thành phố Hồ Chí Minh.
Quá trình sống chung ông bà có 01 con chung là trẻ Cao Nguyễn Nhật P, sinh ngày 08/9/2012.
Quá trình chung sống vợ chồng hay xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do ông C đã ngoại tình. Vợ chồng đã nhiều lần hàn gắn nhưng không có kết quả và hai vợ chồng đã sống ly thân từ cuối năm 2017 cho đến nay không liên lạc và không còn quan tâm chăm sóc nhau. Nay để ổn định cuộc sống bà Đ yêu cầu được ly hôn với ông C. Trong thời gian chung sống với nhau hai vợ chồng ở nhà trọ ở khu vực quận T (không nhớ rõ địa chỉ), Thành phố Hồ Chí Minh. Nay tình cảm không còn nên yêu cầu được ly hôn với ông Cao Huy C. Hiện nay bà đang sống ở thành phố Đ với con và không còn chung sống với ông C nữa.
Về con chung: yêu cầu được trực tiếp giữ nuôi con chung là trẻ Cao Nguyễn Nhật P, sinh ngày 08/9/2012. Việc cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu Tòa án giải quyết. Từ khi sống ly thân đến nay bà Đ là người trực tiếp giữ nuôi trẻ Cao Nguyễn Nhật P.
Về tài sản chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Cao Huy C vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Đ có đơn đề nghị xin xét xử vắng mặt. Tại đơn xin xét xử vắng mặt bà Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị Tòa án giải quyết:
- Về quan hệ vợ chồng: Bà Đ yêu cầu được ly hôn với ông Cao Huy C.
- Về con chung: Yêu cầu được trực tiếp giữ nuôi con chung là trẻ Cao Nguyễn Nhật P, sinh ngày 08/9/2012. Việc cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Bà Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Cao Huy C vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký là đúng thủ tục tố tụng quy định. Việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1, Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng, quan hệ tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án:
Xét nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Đ đưa đơn yêu cầu ly hôn với bị đơn ông Cao Huy C.
Căn cứ xác minh của Công an phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh: Bị đơn ông Cao Huy C có hộ khẩu thường trú tại 150/16/10 L, phường X (trước đây phường V, Quận C), Thành phố Hồ Chí Minh hiện vắng mặt tại địa phương, đang cư trú tại 160TTH 02, KP13, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ xác minh của Công an phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Cao Huy C không thực tế cư trú tại địa phương từ tháng 4/2024 đến nay không biết được đương sự Cao Huy C sinh sống ở đâu.
Căn cứ Điều 11 Luật cư trú thì xác định nơi cư trú của ông C là nơi có Hộ khẩu thường trú là 150/16/10 L, phường X (trước đây phường V, Quận C), Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng Dân sự số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 1- Thành phố Hồ Chí Minh
Xét, ông Cao Huy C đã được tống đạt, niêm yết Thông báo về việc thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo hòa giải và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng vắng mặt nên Tòa án đã lập Biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và Biên bản không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2 Điều 207 và khoản 2 Điều 208 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét, bị đơn ông Cao Huy C đã được Tòa án triệu tập xét xử đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông C.
Xét, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Đ có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Đ.
Xét yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Đ, nhận thấy:
Bị đơn ông Cao Huy C đã được triệu tập tham gia vụ án hợp lệ tuy nhiên không có mặt nên không xuất trình bất kì chứng cứ liên quan do đó căn cứ vào khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự, căn cứ vào chứng cứ có trong Hồ sơ vụ án để xem xét.
Về quan hệ hôn nhân:
Bà Nguyễn Thị Ngọc Đ và ông Cao Huy C tự nguyện kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận số 76, Quyển số 01 tại Ủy ban nhân dân Phường U, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Ủy ban nhân dân phường X, Thành phố Hồ Chí Minh) ngày 18/7/2012. Như vậy, quan hệ hôn nhân của bà Đ và ông C là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận là vợ chồng theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Xét lời trình bày của bà Đ: quá trình chung sống vợ chồng hay xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do ông C đã ngoại tình. Vợ chồng đã nhiều lần hàn gắn nhưng không có kết quả và hai vợ chồng đã sống ly thân từ cuối năm 2017 cho đến nay không liên lạc và không còn quan tâm chăm sóc nhau. Nay, bà nhận thấy đời sống chung đã tách rời quá lâu, mục đích hôn nhân không đạt được, gia đình không thể hàn gắn. Nên bà đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn.
Kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân phường V, Quận C (nay là phường X), Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện: “Ủy ban nhân dân phường không có tiếp nhận đề nghị hòa giải và thông tin mâu thuẫn giữa bà Nguyễn Thị Ngọc Đ và ông Cao Huy C”
Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình, hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.
Khoản 1 Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc gia đình”.
Từ những cơ sở trên đủ cơ sở xác định nguyên đơn bà Đ và bị đơn ông C đã không còn chung sống và quan tâm lẫn nhau, mục đích hôn nhân không đạt được do đó việc nguyên đơn bà Đ yêu cầu ly hôn với bị đơn ông C là có cơ sở chấp nhận.
Về con chung:
Xét, trong quá trình chung sống nguyên đơn bà Đ và bị đơn ông C có 01 con chung là trẻ Cao Nguyễn Nhật P sinh ngày 08/9/2012. Hiện nay bà Đ đang trực tiếp nuôi con và ý kiến của trẻ P có nguyện vọng được ở với mẹ. Nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao trẻ Cao Nguyễn Nhật P, sinh ngày 08/9/2012 cho bà Đ trực tiếp nuôi dưỡng nhằm đảm bảo sự ổn định trong cuộc sống và nguyện vọng của trẻ. Việc cấp dưỡng nuôi con bà Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Bà Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Căn cứ khoản 4, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bà Nguyễn Thị Ngọc Đ phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 266; khoản 1, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng Dân sự số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025.
Căn cứ khoản 1 Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, Điều 56, Điều 71, Điều 72, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ Luật Thi hành án Dân sự.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Đ:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ngọc Đ được ly hôn với ông Cao Huy C.
- Về con chung: Giao con chung là trẻ Cao Nguyễn Nhật P, sinh ngày 08/9/2012. Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông Cao Huy C được quyền thăm nom con và phải có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn được áp dụng theo quy định tại các Điều 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình.
- Về tài sản: Nguyên đơn bà Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí ly hôn sơ thẩm:
Án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), bà Nguyễn Thị Ngọc Đ phải chịu và được cấn trừ vào tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0059399 ngày 20/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phòng Thi hành án Dân sự Khu vực 1 – Thi hành án Dân sự Thành phố H). Bà Nguyễn Thị Ngọc Đ đã nộp đủ án phí.
3. Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Đ và bị đơn ông Cao Huy C được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND Khu vực 1, TP.HCM; - VKSND TP. HCM; - TAND TP. HCM; - UBND phường Xuân Hòa, TP.HCM; - THA Dân sự TP.HCM (Phòng THA DS KV1); - Lưu: VP, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoài Nam Phương |