- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đàm Thị L - Vy Văn N"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Đàm Thị L được ly hôn với anh Vy Văn N.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỮU LŨNG TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2025/HNGĐ-ST Ngày: 17-4-2025 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỮU LŨNG, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Hải Đoàn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Hải Quân.
Bà Lê Thị Hồng Vân.
- Thư ký phiên toà: Bà Vy Khánh Ly - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Nông Văn Hiển - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 200/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2024, về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 07 tháng 3 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 16/2025/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đàm Thị L, sinh năm 1983. Địa chỉ: Thôn X, xã M, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Vy Văn N, sinh năm 1981. Địa chỉ: Thôn X, xã M, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 18 tháng 11 năm 2024, trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Đàm Thị L trình bày:
Chị Đàm Thị L và anh Vy Văn N đăng ký kết hôn ngày 18/3/2002, tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, trước khi kết hôn hai bên được tự do tìm hiểu và được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương.
Sau khi kết hôn cuộc sống ban đầu của vợ chồng diễn ra bình thường nhưng chỉ được khoảng 04 năm, sau khi sinh con đầu lòng một thời gian thì cuộc sống vợ chồng bắt đầu có mâu thuẫn, anh Vy Văn N hay chửi đánh chị Đàm Thị Lệ . Đến năm 2012 vợ chồng ra ở riêng thì cuộc sống vợ chồng càng có nhiều mâu thuẫn hơn. Nguyên nhân, do vợ chồng không cùng quan điểm trong cuộc sống, trong việc nuôi dạy con cái, anh Vy Văn N không chịu tu chí làm ăn, không quan tâm đến gia đình, thường xuyên đàn đúm rượu chè, từ đó cuộc sống vợ chồng ngày càng bất đồng. Tình trạng trên đã kéo dài và từ năm 2020 trở về đây mỗi khi uống rượu say anh Vy Văn N thường xuyên chửi đánh chị Đàm Thị L, do vậy tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt, không còn quan tâm đến nhau, người nào chỉ biết bổn phận của người đó, xác định tình cảm vợ chồng không còn chị Đàm Thị L yêu cầu được ly hôn với anh Vy Văn N.
Về con chung, vợ chồng có 02 người con chung, con lớn Vy Ngọc K sinh ngày 15/5/2005, đã trưởng thành không yêu cầu giải quyết; con nhỏ Vy Thị Ngọc C sinh ngày 15/10/2015, sau ly hôn nguyên đơn yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Vy Thị Ngọc C và không yêu cầu bị đơn phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về điều kiện nuôi con, nguyên đơn có thu nhập ổn định từ 10.000.000 - 11.000.000 đồng/tháng và có chỗ ở hợp pháp tại thôn X, xã M, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.
Về tài sản chung nguyên đơn không yêu cầu giải quyết.
Trong quá trình tố tụng bị đơn anh Vy Văn N trình bày:
Về thời gian kết hôn như chị Đàm Thị L trình bày là đúng, sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng sống hạnh phúc. Khoảng năm 2020, 2021 sức khoẻ anh Vy Văn N bị suy giảm không đi làm thuê được chỉ ở nhà làm ruộng, làm vườn, còn chị Đàm Thị L đi làm thuê có thu nhập ổn định, kể từ đó vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau, xảy ra mâu thuẫn về vấn đề tiền nong. Hiện nay mặc dù vợ chồng sống chung một nhà nhưng mỗi người ăn uống, sinh hoạt riêng, không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Nay chị Đàm Thị L yêu cầu ly hôn anh Vy Văn N không có ý kiến gì.
Về con chung đúng như chị Đàm Thị L trình bày, vợ chồng có 02 người con chung, con lớn Vy Ngọc K sinh ngày 15/5/2005, đã trưởng thành không yêu cầu giải quyết; con nhỏ Vy Thị Ngọc C sinh ngày 15/10/2015, nếu ly hôn bị đơn yêu cầu được nuôi dưỡng, về cấp dưỡng nuôi con do chị Đàm Thị L tự nguyện nếu không tự nguyện anh Vy Văn N một mình tự nuôi con.
Về tài sản chung không yêu cầu giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các trình tự thủ tục tố tụng. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của họ; bị đơn thực hiện chưa đúng quyền và nghĩa vụ theo Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị Đàm Thị L về việc ly hôn với anh Vy Văn N. Về con chung, con lớn Vy Ngọc K sinh ngày 15/5/2005 đã trưởng thành đủ 18 tuổi không yêu cầu giải quyết; con nhỏ Vy Thị Ngọc C sinh ngày 15/10/2015, giao cho chị Đàm Thị L được quyền trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi, anh Vy Văn N không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung không xem xét giải quyết. Về án phí căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa các đương sự đều vắng mặt, nhưng nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Vì vậy, căn cứ Điều 227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Đàm Thị L và anh Vy Văn N, tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 18/3/2002, tại Ủy ban nhân dân xã M nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Về yêu cầu ly hôn: Xét thấy, từ khoảng năm 2021 đến nay vợ chồng thường xuyên căng thẳng, không hạnh phúc, mặc dù sống chung một nhà nhưng mỗi người ăn uống, sinh hoạt riêng; vợ chồng không còn yêu thương quan tâm, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Mâu thuẫn vợ chồng ở trên phù hợp với biên bản xác minh ngày 12/02/2025, phù hợp với trình bày của hai bên. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.
Về con chung: Chị Đàm Thị L và anh Vy Văn N có 02 người con chung, con lớn Vy Ngọc K sinh ngày 15/5/2005; con nhỏ Vy Thị Ngọc C sinh ngày 15/10/2015. Xét thấy, hiện nay con lớn Vy Ngọc K đã trưởng thành đủ 18 tuổi, sức khoẻ lao động bình thường đảm bảo tự nuôi sống bản thân, các bên không yêu cầu Toà án giải quyết là phù hợp với quy định của pháp luật. Đối với, con nhỏ Vy Thị Ngọc C hiện nay đang ở cùng bố mẹ, tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án bị đơn không hợp tác, không cung cấp tài liệu, chứng cứ về điều kiện nuôi con; nguyên đơn đảm bảo điều kiện, khả năng về chỗ ở, thu nhập để nuôi con; nguyện vọng của con mong muốn được sống chung với mẹ. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu giao con nhỏ Vy Thị Ngọc C cho nguyên đơn nuôi dưỡng, giáo dục.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: Xét thấy, Tòa án đã giải thích việc yêu cầu cấp dưỡng cho con là nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chung, nhưng nguyên đơn tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung và nguyên đơn có đủ khả năng, điều kiện nuôi dưỡng con chung. Do vậy, Hội đồng xét xử không buộc bị đơn phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, nguyên đơn phải chịu án phí dân sự để nộp ngân sách Nhà nước.
Xét thấy, ý kiến tại phiên tòa của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định ở trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định tại Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đàm Thị L được ly hôn với anh Vy Văn N.
2. Về con chung: Chị Đàm Thị L và anh Vy Văn N có 02 người con chung, con lớn Vy Ngọc K sinh ngày 15/5/2005, đã trưởng thành đủ 18 tuổi không yêu cầu giải quyết nên không xem xét; con nhỏ Vy Thị Ngọc C sinh ngày 15/10/2015, sau khi ly hôn chị Đàm Thị L được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng, cho đến khi đủ 18 tuổi. Anh Vy Văn N không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Đàm Thị L chưa yêu cầu.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Chị Đàm Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, để nộp ngân sách Nhà nước. Xác nhận chị Đàm Thị L đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0004908 ngày 04 tháng 12 năm 2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh Lạng Sơn; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng; - Chi cục THADS huyện Hữu Lũng; - UBND xã Minh Hoà; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Hoàng Hải Đoàn |