vanban.org

Bản án 20/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lý Thị T.

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Lý Thị T và ông Dương H là vợ chồng. Về con chung: Bà Lý Thị T và ông Dương H có 02 con chung là cháu Dương Thị T1 (giới tính Nữ), sinh ngày 22/08/2003 và cháu Dương Thị T2 (giới tính Nữ), sinh ngày 01/12/2006. Hiện nay, cả 02 cháu đều đã đủ tuổi trưởng thành …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp về yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lý Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 31/3/2025
V/v: Tranh chấp về yêu cầu
không công nhận quan hệ vợ chồng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy Lam.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lâm Ngọc Hà.

2. Ông Thạch Văn Hoà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Tú Lệ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.

Ngày 31 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 236/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp về yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lý Thị T. Địa chỉ: Ấp T, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Dương H. Địa chỉ: Ấp T, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 01/11/2024 và biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 30/12/2024, nguyên đơn bà Lý Thị T trình bày:

Nguyên vào năm 2002, bà Lý Thị T và ông Dương H quen nhau có làm lễ cưới theo đúng phong tục tập quán, nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật.

Bà T và ông H chung sống với nhau được 02 người con chung là cháu Dương Thị T1 (giới tính Nữ), sinh ngày 22/08/2003 và cháu Dương Thị T2 (giới tính Nữ), sinh ngày 01/12/2006.

Bà T và ông H chung sống với nhau thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn, nên cuộc sống giữa bà T và ông H không hạnh phúc. Mục đích hôn nhân không đạt được.Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Nay bà Lý Thị T yêu cầu Tòa án giải quyết:

Về hôn nhân: Bà Lý Thị T yêu cầu Toà án không công nhận bà Lý Thị T và ông Dương H là vợ chồng.

Về con chung: Cháu Dương Thị T1 (giới tính Nữ), sinh ngày 22/08/2003 đã đủ tuổi trưởng thành và có gia đình riêng nên không yêu cầu toà xem xét giải quyết. Còn cháu Dương Thị T2 (giới tính Nữ), sinh ngày 01/12/2006 hiện nay đang sống cùng bà Lý Thị T, nên bà Lý Thị T yên cầu được tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 30/12/2024 bà Lý Thị T thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện về phần con chung, cụ thể: Hiện nay, con chung của bà và ông Dương H là cháu Dương Thị T1 (giới tính Nữ), sinh ngày 22/08/2003 và cháu Dương Thị T2 (giới tính Nữ), sinh ngày 01/12/2006 đều đã trưởng thành, có khả năng lao động nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Đối với bị đơn ông Dương H: Tòa án đã thực hiện tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho ông Dương H, nhưng từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến nay, ông Dương H vắng mặt, không tham gia tố tụng, không gửi cho Tòa án văn bản ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Nguyên đơn bà Lý Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận bà và ông Dương H là vợ chồng; Về con chung: Con chung của bà và ông Dương H đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết; Về tài sản chung, nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng thụ lý vụ án xác định quan hệ pháp luật giải quyết “Tranh chấp về yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng” là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Nguyên đơn bà Lý Thị T có đơn yêu cầu Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, quyết định tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.

[3] Đối với bị đơn ông Dương H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Theo bà Lý Thị T trình bày thì bà và ông Dương H chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 2002 nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Việc ông, bà không có đăng ký kết hôn đã được Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng xác nhận tại giấy xác nhận số 06/XN-HT ngày 10/4/2024.

Như vậy, bà Lý Thị T và ông Dương H có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật nhưng không đăng ký kết hôn cho nên quan hệ hôn nhân của ông, bà không được pháp luật công nhận. Trong quá trình chung sống, giữa bà Lý Thị T và ông Dương H phát sinh nhiều mâu thuẫn, dẫn đến cuộc sống của ông, bà không còn hạnh phúc nên bà Lý Thị T yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận bà và ông Dương H là vợ chồng. Đồng thời, từ khi Toà án thụ lý vụ án cho đến nay, ông Dương H cũng không có ý kiến phản đối về yêu cầu khởi kiện của bà Lý Thị T. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 14 và khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lý Thị T.

Về con chung: Bà Lý Thị T và ông Dương H có 02 con chung là cháu Dương Thị T1 (giới tính Nữ), sinh ngày 22/08/2003 và cháu Dương Thị T2 (giới tính Nữ), sinh ngày 01/12/2006. Hiện nay, cả 02 cháu đều đã đủ tuổi trưởng thành và có khả năng lao động nên bà Lý Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lý Thị T tự trình bày là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí sơ thẩm: Bà Lý Thị T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm số tiền 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; căn cứ các Điều 14, 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lý Thị T.

- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Lý Thị T và ông Dương H là vợ chồng.

- Về con chung: Bà Lý Thị T và ông Dương H có 02 con chung là cháu Dương Thị T1 (giới tính Nữ), sinh ngày 22/08/2003 và cháu Dương Thị T2 (giới tính Nữ), sinh ngày 01/12/2006. Hiện nay, cả 02 cháu đều đã đủ tuổi trưởng thành và có khả năng lao động nên bà Lý Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lý Thị T tự trình bày là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

- Án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Lý Thị T phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tiền số 0005809 ngày 01 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng; Như vậy, bà Lý Thị T đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm. Ông Dương H không phải chịu án phí sơ thẩm.

Báo các đương sự biết, án xử sơ thẩm công khai có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết) để xin Tòa án cấp trên xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ