vanban.org

Bản án 20/2025/HNGĐ-ST — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về xác định cha cho con: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định anh Trần Lý H sinh năm 1994, địa chỉ: Thôn Trung T, xã Minh D, huyện Hàm Y, tỉnh Tuyên Quang là bố (cha) đẻ của con dự định đặt tên là Trần Trung N, giới tính: Nam, sinh ngày 30 tháng 7 năm 2020 theo Gi…

Về án phí: Chị Đặng Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm (chƣa nộp). Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Trần Lý Huỳnh - Đặng Thị Ngàn - Xác nhận cha con"
  • Tòa quyết gì? Về xác định cha cho con: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định anh Trần Lý H sinh năm 1994, địa chỉ: Thôn Trung T, xã Minh D, huyện Hàm Y, tỉnh Tuyên Quang là bố (cha) đẻ của con dự định đặt tên là Trần Trung N, giới tính: Nam, sinh ngày 30 tháng 7 năm 2020 theo Gi…
  • Căn cứ chính? Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỨ KỲ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH HẢI DƢƠNG
Bản án số: 20/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 15/5/2025
“V/v tranh chấp về xác định cha cho con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đàm Nhân Trác

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Quang Liêm và ông Phạm Xuân Sang.

- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Anh – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 116/2025/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2025 về việc tranh chấp về xác định cha cho con theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 21/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2025, giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Anh Trần Lý H, sinh năm 1994; Địa chỉ: Thôn Trung T, xã Minh D, huyện Hàm Y, tỉnh Tuyên Quang.

- Bị đơn: Chị Đặng Thị N, sinh năm 1996; Địa chỉ: Thôn Nhũ Tỉnh, xã Quang Khải, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng;

- Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1989; Địa chỉ: Xóm 7, thôn 3, xã Văn H, huyện Ninh G, tỉnh Hải Dƣơng.

( Các đƣơng sự đều có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai, nguyên đơn - anh Trần Lý H trình bày: Cuối năm 2019 anh có quen biết với chị Đặng Thị N, khi đó chị Ngàn đang có chồng là anh Nguyễn Văn S, nhƣng do mâu thuẫn nên vợ chồng chị Ngàn sống ly thân, chƣa ly hôn. Sau đó chị Ngàn có thai với anh, ngày 30/7/2020 chị Ngàn sinh con là con Trần Trung N, sinh ngày 30/7/2020 (tên dự định đặt theo giấy chứng sinh), anh xác định cháu Trần Trung N là con đẻ của anh và chị Ngàn. Ngày 09/12/2020 chị Ngàn và anh Sớm ly hôn theo QĐ công nhận thuận tình ly hôn số 153/2020/HNGĐ - ST ngày 09/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dƣơng. Do chị Ngàn mang thai và sinh con trong thời kỳ hôn nhân với anh Sớm nên chƣa làm đƣợc giấy khai sinh cho cháu Trần Trung N. Nay anh muốn làm giấy khai sinh cho cháu Trần Trung N con của anh theo đúng cha đẻ của đứa trẻ nên anh làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án xác định cháu Trần Trung N là con đẻ của anh. Về chi phí giám định: Anh tự nguyện chịu cả chi phí giám định ADN.

Tại biên bản lấy lời khai, bị đơn - chị Đặng Thị N trình bày: Chị có quen biết với anh Trần Lý H vào cuối năm 2019 và hai ngƣời nẩy sinh tình cảm, khi đó chị đang có chồng là anh Nguyễn Văn S nhƣng do mâu thuẫn vợ chồng nên thời điểm đó chị và anh Sớm đang sống ly thân. Sau đó chị mang thai con của anh Huỳnh. Ngày 30/7/2020 chị sinh con là cháu Trần Trung N tên theo giấy chứng sinh, chị xác định anh Trần Lý H là cha của cháu bé, sau khi sinh con chị đã làm đơn xin ly hôn anh Sớm. Ngày 09/12/2020 chị và anh Nguyễn Văn S ly hôn theo Quyết định Công nhận thuận tình ly hôn số 153 ngày 09/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dƣơng. Do chị mang thai và sinh con trong thời kỳ hôn nhân với anh Nguyễn Văn S nên chị chƣa làm đƣợc giấy khai sinh cho cháu theo đúng cha đẻ của đứa trẻ. Nay chị xác định cháu Trần Trung N, sinh ngày 30/7/2020 (tên theo giấy chứng sinh) là con đẻ của anh Trần Lý H. Để làm giấy khai sinh cho cháu, anh Huỳnh làm đơn khởi kiện xác định anh là cha đẻ của cháu Trần Trung N chị nhất trí, đề nghị Toà án lấy mẫu giám định ADN giữa anh Huỳnh và cháu Ngọc để làm căn cứ giải quyết vụ án và chị đề nghị đƣợc vắng mặt tại phiên họp, phiên hòa giải và phiên toà.

Tại biên bản lấy lời khai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - anh Nguyễn Văn S trình bày: Ngày 09/12/2020 anh đƣợc Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang giải quyết việc ly hôn giữa anh và chị Đặng Thị N. Theo QĐCNTT ly hôn 153/2020/HNGĐ - ST ngày 09/12/2020. Trong thời gian anh và chị Ngàn sống ly thân và chờ Tòa án giải quyết ly hôn, chị Ngàn đã có tình cảm và sinh con với anh Trần Lý H. Anh xác định không liên quan gì đến con chung của chị Ngàn, anh Huỳnh và anh từ chối giám định với cháu Trần Trung N, sinh ngày 30/7/2020 (tên theo giấy chứng sinh) vì anh xác định cháu Ngọc không phải là con của anh. Anh Huỳnh có đơn khởi kiện đề nghị Toà án xác định cháu Trần Trung N và anh Huỳnh có quan hệ là cha cho con, anh không có ý kiến gì và anh đề nghị đƣợc vắng mặt tại phiên họp, phiên hòa giải và phiên toà.

Tại Bản kết luận giám định ADN số số 23T4/25/DNA ngày 23 tháng 4 năm 2025, Công ty TNHH Đầu tư và Công nghệ Genplus kết luận: Anh Trần Lý H có quan hệ huyết thống bố - con với cháu Trần Trung N, độ tin cậy >99,9999%.

Tại phiên toà:

- Nguyên đơn anh Trần Lý H có đơn xin xét xử vắng mặt và đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh, xác định anh là cha đẻ của cháu Trần Trung N.

- Bị đơn chị Đặng Thị N có đơn xin xét xử vắng mặt và đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Huỳnh.

- Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt và không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền, đúng thời hạn tố tụng, trong quá trình giải quyết và xét xử tại phiên tòa đã tuân theo đúng trình tự tố tụng. Nguyên đơn, bị đơn và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của đƣơng sự quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 101, khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 4 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Lý H. Xác định anh Trần Lý H là cha đẻ cháu Trần Trung N, sinh ngày 30/7/2020. Về án phí: Anh Trần Lý H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, chị Đặng Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã đƣợc xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về áp dụng pháp luật tố tụng: Anh Trần Lý H khởi kiện tranh chấp về xác định cha cho con, bị đơn chị Đặng Thị N có địa chỉ tại thôn Nhũ Tỉnh, xã Quang Khải, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng, Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 101 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đƣa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập cho các đƣơng sự. Tại phiên tòa, các đƣơng sự đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên HĐXX tiến hành xét xử vụ án vắng mặt tất cả những ngƣời tham gia tố tụng là phù hợp với khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, các điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung tranh chấp: Chị Đặng Thị N và anh Nguyễn Văn S đã ly hôn theo QĐCNTT ly hôn 153/2020/HNGĐ - ST ngày 09/12/2020 của Toà án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dƣơng, khi đó Toà án không giải quyết về con chung của anh chị là cháu Trần Trung N (tên theo giấy chứng sinh). Anh Huỳnh xác định trong thời gian chị Ngàn và anh Sớm sống ly thân, anh có quen biết và nảy sinh tình cảm với chị Ngàn dẫn đến chị Ngàn có thai và sinh con. Anh Huỳnh xác định cháu Ngọc là con của anh nhƣng anh và chị Ngàn chƣa đăng ký khai sinh đƣợc cho cháu Ngọc nên anh khởi kiện yêu cầu xác định cha cho con. Bị đơn - chị Đặng Thị N xác định chị có quen biết và phát sinh tình cảm với anh Huỳnh, sau đó có con với anh, chị xác định cháu Trần Trung N là con của anh Huỳnh. Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - anh Nguyễn Văn S xác định anh và chị Ngàn đã sống ly thân, không qua lại tình cảm với nhau và anh xác định cháu Trần Trung N không phải là con của anh và chị Ngàn. Tại Bản kết luận giám định ADN số 23T4/25/DNA ngày 23 tháng 4 năm 2025, Công ty TNHH Đầu tƣ và Công nghệ Genplus kết luận: Anh Trần Lý H có quan hệ huyết thống bố - con với cháu Trần Trung N, độ tin cậy >99,9999%. Căn cứ lời trình bày của các đƣơng sự cũng nhƣ kết quả giám định AND; HĐXX xét thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Huỳnh về việc xác định cháu Trần Trung N là con đẻ của anh Trần Lý H là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 39 của Bộ luật Dân sự, các điều 88, 89, 90, 91, 101 và 102 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về chi phí tố tụng: Anh Trần Lý H tự nguyện chịu cả chi phí giám định ADN và đã nộp đủ nên HĐXX không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Anh Trần Lý H yêu cầu xác định cha cho con chƣa thành niên đƣợc chấp nhận nên không phải chịu án phí. Chị Đặng Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 88, 89, 90, 91, 101 và 102 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 39 của Bộ luật Dân sự; khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, các điểm a, b khoản 1 Điều 238, khoản 2 Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về xác định cha cho con: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định anh Trần Lý H sinh năm 1994, địa chỉ: Thôn Trung T, xã Minh D, huyện Hàm Y, tỉnh Tuyên Quang là bố (cha) đẻ của con dự định đặt tên là Trần Trung N, giới tính: Nam, sinh ngày 30 tháng 7 năm 2020 theo Giấy chứng sinh số 603 ngày 30 tháng 7 năm 2020 của Trung tâm y tế huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.

2. Về án phí: Chị Đặng Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm (chƣa nộp).

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ