vanban.org

Bản án 20/2024/KDTM-ST — Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 10/09/2024 Kinh doanh thương mại Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

124;Điều 125;Điều 129; Điều 130; Điều 202 Luật sở hữu trí tuệ

ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Tuyên bố việc Bị đơn sử dụng các dấu hiệu trùng /tương tự với các Nhãn Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ — án kinh doanh thương mại — "Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ Abt - NF"
  • Tòa quyết gì? 124;Điều 125;Điều 129; Điều 130; Điều 202 Luật sở hữu trí tuệ
  • Căn cứ chính? Điều 202 Luật sở hữu trí tuệ - Căn cứ Nghị; Điều 123 Luật sở hữu trí tuệ - Căn cứ Nghị; Điều 124 Luật sở hữu trí tuệ - Căn cứ Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2024/KDTM-ST
Ngày: 10/9/2024
V/v: Tranh chấp về quyền sở
hữu trí tuệ.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Tuyết Mai

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Ngọc Bích

Bà Nguyễn Thị Thúy

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thị Giang- Thư ký Toà án nhân dân

thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà

Nguyễn Thị Huyền Trang - Kiểm sát viên.

Trong ngày 10/9/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử

sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 14/2024/TLST-KDTM ngày 09/5/2024 về tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 557/2024/QĐXX-ST ngày 26/8/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: AbLa (Abt)

Trụ sở: 1xx Abt Park Road, Abt Park, Illinois 60064, Hợp chủng quốc Hoa

Kỳ. Đại diện theo pháp luật: Ông RBF – Chủ tịch HĐQT và Giám đốc điều hành.

Ông RBF ủy quyền cho bà GDT – Trợ lý thư ký.

Bà GDT ủy quyền lại cho ông JH ký đơn khởi kiện.

Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng:

1. Công ty Luật TNHH R

Trụ sở: Phòng 1xxx, tầng A, tòa nhà D, số 81 - 85 C, phường N, quận B,

thành phố Hồ Chí Minh.

- Ông PYT – nhân viên công ty

- Ông NQH – nhân viên công ty

2. Bà VTHY

3. Bà NTQ

Địa chỉ liên lạc: Công ty Luật TNHH R, tầng 2x Tòa Tây Tòa nhà L C Hà

Nội, số 5x LG, phường CV, quận BĐ, Hà Nội. ( Ông T, ông H, bà Q, bà Y có mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của AbLa (Abt): Luật sư NKL –

Luật sư Công ty Luật TNHH R – Đoàn luật sư thành phố Hà Nội. ( Bà L có mặt )

- Bị đơn: Công ty Cổ phần Thực phẩm NF (NF)

Trụ sở chính: thôn Đ, xã P, huyện QO, Hà Nội.

Đại diện theo pháp luật:

1. Ông NVN - Chủ tịch HĐQT

2. Bà HTK - Giám đốc.

( Ông N có mặt, bà K vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

1. Theo đơn khởi kiện và các tài liệu kèm theo, đại diện nguyên đơn trình

bày:

AbLa/Nguyên đơn là một trong những công ty hàng đầu trong lĩnh vực chăm

sóc sức khỏe và cung cấp các sản phẩm dinh dưỡng trên toàn thế giới, được sáng lập bởi Tiến sĩ W C. Abt vào năm 1888 và được đăng ký thành lập tại Illinois vào năm 1900.

Hoạt động kinh doanh chính của Nguyên đơn là khám phá, phát triển, sản

xuất và tiếp thị các sản phẩm chăm sóc sức khỏe. Các sản phẩm của Nguyên đơn thường được phân phối trực tiếp cho các nhà bán lẻ, bán buôn, bệnh viện, cơ sở chăm sóc sức khỏe, phòng thí nghiệm, phòng khám và các cơ quan chính phủ trên toàn thế giới. Bốn bộ phận kinh doanh chính của Nguyên đơn là Sản phẩm Dược phẩm đã xác định (sản phẩm thuốc generic được đăng ký), Sản phẩm Dinh dưỡng (sản phẩm dinh dưỡng dành cho người lớn và trẻ em), Thiết bị Chẩn đoán (hệ thống chẩn đoán và xét nghiệm dùng trong các ngân hàng máu, bệnh viện, phòng thí nghiệm thương mại và xét nghiệm tại nhà) và Thiết bị Y khoa (thiết bị quản lý nhịp tim, điện tim, suy tim, mạch máu, tim cấu trúc, điều chỉnh thần kinh và chăm sóc đái tháo đường).

Đối với các sản phẩm dinh dưỡng, thương hiệu Ens của Nguyên đơn là

thương hiệu thực phẩm bổ sung dinh dưỡng số 1 trên toàn thế giới. Tại Mỹ, thương hiệu PeS của Abt là thương hiệu thực phẩm bổ sung dinh dưỡng số 1 được bác sĩ nhi khoa khuyên dùng và Glur là thương hiệu số 1 được các bác sĩ khuyên dùng cho bệnh nhân đái tháo đường.

Nguyên đơn gia nhập thị trường Việt Nam từ năm 1995 và là đơn vị tiên

phong trong lĩnh vực dinh dưỡng và chăm sóc sức khỏe nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người Việt Nam. Các sản phẩm chính của Nguyên đơn tại Việt Nam là các sản phẩm dinh dưỡng cho trẻ em và người già và các sản phẩm chăm sóc sức khỏe, bao gồm Ens (phù hợp cho người lớn, người ăn uống kém, đặc biệt cho người bệnh cần phục hồi nhanh), PeS (phù hợp cho trẻ em cần bổ sung dinh dưỡng để phát triển), Glur (phù hợp cho người mắc bệnh đái tháo đường và tiền đái tháo đường) và Gr (thực phẩm bổ sung dinh dưỡng cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ). Sau những nỗ lực không ngừng nhằm cải tiến sản phẩm để tạo ra những giá trị phù hợp và đáp ứng đầy đủ nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng tăng của người Việt, các sản phẩm dinh dưỡng của Nguyên đơn đã nhận được sự tin tưởng và công nhận của người tiêu dùng là các sản phẩm dinh dưỡng chất lượng cao.

Nhờ đạt được sự tin tưởng và công nhận của người tiêu dùng Việt Nam, các

sản phẩm của Nguyên đơn đã chiếm được thị phần lớn trên thị trường sữa Việt Nam đối với các phân khúc tương ứng. Cụ thể, theo số liệu gần đây nhất trong giai đoạn từ tháng 7/2022 đến tháng 7/2023, sản phẩm Gr chiếm 15,6% thị phần phân khúc Sữa công thức cho trẻ nhỏ (xếp hạng nhất trong phân khúc), sản phẩm PeS chiếm 25% thị phần phân khúc Thực phẩm bổ sung dinh dưỡng hoàn chỉnh (xếp hạng 2 trong phân khúc), sản phẩm Ens chiếm 87,2% thị phần của phân khúc Hoàn thiện và Cân bằng (xếp hạng nhất trong phân khúc), và sản phẩm Glur chiếm 73% thị phần của phân khúc Tiểu đường (xếp hạng nhất trong phân khúc).

Nguyên đơn là chủ sở hữu của nhiều đăng ký nhãn hiệu “ENS”, “PES”,

“GLUR”, “PROS” và “GR Và Hình Hươu cao cổ” cho nhiều loại sữa, sữa bột và các sản phẩm dinh dưỡng (sau đây gọi là “Nhãn hiệu của Abt”). Chi tiết về các đăng ký nhãn hiệu, bao gồm nhưng không giới hạn, được liệt kê bên dưới:

Số bằng/

Số đơn/ Ngày STT Nhãn hiệu

Ngày cấp

Nhóm hàng hóa

nộp đơn

bằng

29 – Sữa; sữa bột; sữa chua;

4-2007-19195

112399

1

XXX

sữa tươi; sữa đặc; pho mai;

25/9/2007

29/10/2008

sữa đậu nành.

4-2009-03209

151316

29 – Sữa, sữa bột, sữa chua, 2

XXX

27/02/2009

20/8/2010

sữa tươi, sữa đặc, pho mai.

05 – Thực phẩm cho trẻ em;

4-2001-04156

44807

3

(Hình ảnh)

chất ăn kiêng dùng trong

11/9/2001

13/01/2003

ngành y.

05 – Thuốc và chế phẩm

dược, bao gồm chế phẩm

dinh dưỡng cho người đái

tháo đường; chất bổ sung

4-2017-37163

347737

4

XXX

dinh dưỡng dưới dạng bột

10/11/2017

18/3/2020

hoặc dạng lỏng; chất ăn

kiêng dùng cho mục đích y

tế; thực phẩm ăn kiêng dùng

cho mục đích y tế.

05 – Chất bổ sung dinh

dưỡng dùng cho mục đích y

tế; chất ăn kiêng dùng cho

mục đích y tế; chất bổ sung

4-2016-08568

309942

5

(Hình ảnh)

dinh dưỡng dùng cho mục

31/3/2016

04/12/2018

đích y tế dạng bột, dạng để

trộn/lắc và dạng thanh.

29 – Chế phẩm sữa dạng bột;

sữa và sản phẩm sữa.

05 – Chất ăn kiêng dùng cho

mục đích y tế; chế phẩm dinh

dưỡng cho nhi khoa, chất bổ

sung dinh dưỡng và dùng khi

4-2013-08588

234080

ăn kiêng cho trẻ em; sữa 6

(Hình ảnh)

03/5/2013

24/10/2014 công thức dành cho trẻ còn

ẵm ngửa; thực phẩm cho em

bé.

29 – Chế phẩm sữa dạng bột;

sữa và sản phẩm sữa.

05 – Chất ăn kiêng dùng cho

mục đích y tế; chế phẩm dinh

dưỡng cho nhi khoa; chất bổ

sung dinh dưỡng và dùng khi

4-2013-08586

234078

ăn kiêng cho trẻ em; sữa 7

(Hình ảnh)

03/5/2013

24/10/2014 công thức dành cho trẻ còn

ẵm ngửa; thực phẩm cho em

bé.

29 – Chế phẩm sữa dạng bột;

sữa và sản phẩm sữa.

05 – Chất ăn kiêng dùng cho

mục đích y tế; chế phẩm dinh

dưỡng cho nhi khoa; chất bổ

sung dinh dưỡng và dùng khi

4-2013-08589

234057

ăn kiêng cho trẻ em; sữa 8

(Hình ảnh)

03/5/2013

24/10/2014 công thức dành cho trẻ còn

ẵm ngửa; thực phẩm cho em

bé.

29 – Chế phẩm sữa dạng bột;

sữa và sản phẩm sữa.

05 – Chất ăn kiêng dùng cho

mục đích y tế; chế phẩm dinh

4-2013-08815

232543

dưỡng cho nhi khoa; chất bổ 9

(Hình ảnh)

06/5/2013

02/10/2014 sung dinh dưỡng và dùng khi

ăn kiêng cho trẻ em; sữa

công thức dành cho trẻ còn

ẵm ngửa; thực phẩm cho em

bé.

29 – Chế phẩm sữa dạng bột;

sữa và sản phẩm sữa.

05 – Chất ăn kiêng dùng cho

mục đích y tế; chế phẩm dinh

dưỡng cho nhi khoa; chất bổ

sung dinh dưỡng và dùng khi

4-2013-08816

232544

ăn kiêng cho trẻ em; sữa 10

(Hình ảnh)

06/5/2013

02/10/2014 công thức dành cho trẻ còn

ẵm ngửa; thực phẩm cho em

bé.

29 – Chế phẩm sữa dạng bột;

sữa và sản phẩm sữa.

4-2005-11679

89072

05 – Chất ăn kiêng dùng cho 11

XXX

09/9/2005

19/9/2007

ngành y.

05 – Chất ăn kiêng dùng cho

mục đích y tế; chế phẩm dinh

dưỡng cho nhi khoa; chất bổ

sung dinh dưỡng và dùng khi

4-2013-08813

232542

ăn kiêng cho trẻ em; sữa 12

(Hình ảnh)

06/5/2013

02/10/2014 công thức dành cho trẻ còn

ẵm ngửa; thực phẩm cho em

bé.

29 – Chế phẩm sữa dạng bột;

sữa và sản phẩm sữa.

* Hành vi của Công ty Cổ phần Thực phẩm NF xâm phạm quyền đối với

nhãn hiệu của Nguyên đơn:

Nguyên đơn được biết rằng Bị đơn đã sử dụng các dấu hiệu trùng hoặc

tương tự với các Nhãn hiệu của Abt, cả trên môi trường điện tử trực tuyến cũng như trực tiếp, để sản xuất, quảng bá, quảng cáo và phân phối các sản phẩm sữa.

Danh sách các sản phẩm mang các Dấu hiệu Xâm phạm được liệt kê trong

bảng kèm theo đơn khởi kiện. Xin lưu ý danh sách này không bao gồm tất cả các sản phẩm mang các Dấu hiệu Xâm phạm. Tất cả các hành vi xâm phạm trên đều được Thừa Phát Lại lập Vi Bằng và được đính kèm tại Phụ lục 3, 4, 5, và 6 của Đơn Khởi kiện.

* Khả năng gây nhầm lẫn giữa các Dấu hiệu Xâm phạm của Bị đơn và các

Nhãn hiệu của Nguyên đơn:

- Về hàng hóa, Bị đơn sử dụng các Dấu hiệu Xâm phạm cho các sản phẩm

sữa (i) trùng với các sản phẩm được đăng ký của Nguyên đơn (cụ thể là thực phẩm dùng cho mục đích y tế và thực phẩm cho trẻ em thuộc Nhóm 05; các chế phẩm sữa bột, sữa và các sản phẩm từ sữa thuộc Nhóm 29); và/hoặc (ii) trùng với các sản phẩm của Nguyên đơn đã đạt được uy tín đáng kể và có liên quan trực tiếp đến các nhãn hiệu được sử dụng rộng rãi và nổi tiếng của Nguyên đơn tại Việt Nam.

- Về dấu hiệu, các Dấu hiệu Xâm phạm của Bị đơn trùng hoặc tương tự

đến mức gây nhầm lẫn với các Nhãn hiệu của Nguyên đơn như sau:

+ Đối với các nhãn hiệu ENS, PES, GLUR, PROS (sau đây gọi là “các

Nhãn Hiệu Chữ”):

Bị đơn sử dụng các dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn

với các Nhãn Hiệu Chữ của Nguyên đơn cho các sản phẩm có liên quan của mình. Mặc dù những dấu hiệu đó được thể hiện bằng màu sắc khác nhau và/hoặc có những thay đổi nhỏ như thêm khoảng cách giữa “PE” và “S”; và thêm/xóa chữ “R” trong GLUR, v.v., các Dấu hiệu Xâm phạm trên các sản phẩm của Bị đơn, xét tổng thể, vẫn tương tự đến mức gây nhầm lẫn với các Nhãn Hiệu Chữ của Nguyên đơn. Do đó, việc sử dụng thực tế các Dấu hiệu Xâm phạm làm tăng khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc của sản phẩm.

+ Đối với nhãn hiệu “GR Và Hình Hươu cao cổ” (sau đây gọi là “các Nhãn

Hiệu Gr và Hình Hươu cao cổ”)

Các dấu hiệu xâm phạm và các nhãn hiệu Gr và Hình Hươu cao cổ của

Nguyên đơn đều là sự kết hợp của hai yếu tố chính là yếu tố chữ “GR” và hình hươu cao cổ (theo phong cách hoạt hình). Sự tồn tại nổi bật của hai yếu tố này trong cả các Dấu hiệu Xâm phạm và các Nhãn Hiệu Gr và Hình Hươu Cao Cổ của Nguyên đơn là đủ để gây ra sự nhầm lẫn đáng kể cho người tiêu dùng.

Hơn nữa, Viện KHSHTT đã kết luận trong các kết luận giám định của Viện

KHSHTT rằng tại Việt Nam, người tiêu dùng sẽ ngay lập tức liên tưởng tổ hợp “Hươu cao cổ + GR” với Nguyên đơn khi “Hươu cao cổ + GR” được sử dụng cho các sản phẩm sữa trẻ em, trong đó khẳng định rằng (i) mối liên hệ giữa tổ hợp này với Nguyên đơn, và (ii) nguy cơ gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng khi Bị đơn sử dụng tổ hợp này cho sản phẩm trùng/tương tự với Nguyên đơn.

Dựa vào uy tín đã được gây dựng trong nhiều năm của các sản phẩm sữa

GR của Nguyên đơn trên thị trường Việt Nam, người tiêu dùng Việt Nam đã ngay lập tức liên hệ các Nhãn Hiệu Gr và Hình Hươu Cao Cổ với Nguyên đơn. Để làm rõ và chứng minh đầy đủ cho việc này, Nguyên đơn đã thực hiện một dự án khảo sát thị trường toàn diện bao gồm các khảo sát riêng biệt về nhận thức của người tiêu dùng có liên quan đối với các thương hiệu sữa công thức có hình ảnh hươu cao cổ trên thị trường. Chúng tôi nhấn mạnh rằng các cuộc khảo sát này đã sử dụng một hình ảnh hươu cao cổ đứng một mình chung chung mà không có bất kỳ sự cách điệu cụ thể nào và tổ hợp “Hươu cao cổ + GR”. Khảo sát được thực hiện từ ngày 13 tháng 4 năm 2023 đến ngày 05 tháng 5 năm 2023 bởi Intage Việt Nam – một thành viên của Int Group (“Int”) – một đơn vị nghiên cứu thị trường uy tín và đáng tin cậy (xếp thứ 1 tại Nhật Bản và thứ 10 trên toàn cầu). Int Việt Nam đã có 17 năm am hiểu thị trường Việt Nam và là đơn vị đầu tiên trên thị trường đạt chứng chỉ ISO 20252 của Viện Tiêu chuẩn Anh. Có thể kết luận rằng kết quả của các cuộc khảo sát này là chính xác, xác thực và đáng tin cậy.

Cụ thể, Int đã thực hiện hai cuộc khảo sát riêng biệt với 600 người mẹ tuổi

từ 19 đến 45 có con dưới 6 tuổi đã từng mua sản phẩm sữa công thức ít nhất một lần và đã sử dụng ít nhất trong 3 tháng tại 6 thành phố ở cả thành thị và nông thôn trên khắp Việt Nam: Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh, Nam Định, Quảng Ngãi và Tiền Giang.

Cả hai cuộc khảo sát đều cho thấy rằng Nguyên đơn có mối liên hệ chặt

chẽ nhất với hình ảnh hươu cao cổ và tổ hợp “Hươu cao cổ + GR” đối với sữa công thức dành cho trẻ em. Cụ thể như sau:

Trong cuộc khảo sát về mối liên hệ của người tiêu dùng với hình ảnh hươu

cao cổ, có 472 người được phỏng vấn (tương đương 79% tổng số người tham dự) liên kết hình ảnh này duy nhất với Nguyên đơn một cách tự nhiên. Điều đó có nghĩa là những người được phỏng vấn không được nhận bất kỳ gợi ý hoặc phương án nào để lựa chọn trong câu trả lời của họ. Thay vào đó, họ trả lời bằng kiến thức của mình. Tỷ lệ này tăng lên đến 88% ở mức độ có hỗ trợ khi người được phỏng vấn được cho xem hình ảnh các logo và tên các công ty tương ứng để lựa chọn đáp án (sau đây gọi là “khi có gợi ý”). Tỷ lệ cao đáng kể này của những người được phỏng vấn liên kết Nguyên đơn với hình ảnh hươu cao cổ và ngược lại chứng minh rõ ràng một sự thật là Nguyên đơn rất nổi tiếng trên thị trường và được người tiêu dùng liên quan đánh giá rất cao về các sản phẩm sữa có bao bì chứa hình ảnh hươu cao cổ (đây là các Nhãn hiệu Hình Hươu cao cổ của Abt). Ngoài ra, do những người được phỏng vấn chỉ được hỏi về hươu cao cổ chung chung mà không được cho xem hay được gợi ý về bất kỳ hình ảnh hay thiết kế cụ thể nào của hươu cao cổ, nên kết quả cho thấy rõ ràng rằng hình ảnh hươu cao cổ, bất kể được cách điệu ra sao hay được thể hiện ở tư thế nào, đều liên kết tới Nguyên đơn và giúp người tiêu dùng phân biệt hàng hóa của Nguyên đơn với các nhà sản xuất khác.

Trong cuộc khảo sát về sự liên tưởng của người tiêu dùng với tổ hợp “Hươu

cao cổ + GR”, có tới 430 người được phỏng vấn (tương đương 72% tổng số người tham dự) liên kết tổ hợp này duy nhất với Nguyên đơn một cách tự nhiên. Tỷ lệ tăng lên đến 86% khi có gợi ý. Tỷ lệ này tiếp tục chứng minh sự nổi tiếng không thể phủ nhận của hình ảnh hươu cao cổ được gắn với các sản phẩm sữa GR của Nguyên đơn.

Kết quả của các cuộc khảo sát này chứng minh rất rõ ràng sự công nhận

hiện tại của người tiêu dùng liên quan đối với Nguyên đơn và các sản phẩm sữa GR của Nguyên đơn cũng như danh tiếng không thể phủ nhận mà Nguyên đơn đã gây dựng trong hơn 20 năm qua cho các sản phẩm sữa GR của mình với hình ảnh hươu cao cổ như một “biểu tượng” của các sản phẩm đó. Theo đó, danh tiếng lâu đời của các Nhãn Hiệu Gr và Hình Hươu cao cổ tại Việt Nam ngày càng được củng cố nhờ hành trình bền bỉ và tâm huyết của Nguyên đơn đối với các sản phẩm sữa GR tại thị trường Việt Nam. Thành tựu và sự công nhận này không thể nào có được chỉ trong một khoảng thời gian ngắn. Sẽ không thể đạt được sự công nhận của người tiêu dùng tham gia vào các cuộc khảo sát này nếu như Nguyên đơn không nỗ lực trong 20 năm liên tiếp để phát triển và quảng bá các sản phẩm sữa GR tại Việt Nam.

Kết quả của các cuộc khảo sát càng chứng tỏ vị thế duy nhất của Nhãn hiệu

GR và Hình Hươu cao cổ của Abt trên thị trường trong thời điểm hiện tại. Rõ ràng là ngày càng có nhiều đối thủ cạnh tranh trên thị trường đã sử dụng nhân vật hươu cao cổ tương tự. Tuy nhiên, như đã được chứng minh qua các cuộc khảo sát, người tiêu dùng, giữa các nhãn hiệu sữa khác nhau, vẫn nhận diện hình ảnh hươu cao cổ và tổ hợp “Hươu cao cổ + GR” gắn liền với Abt. Điều này càng chứng tỏ ấn tượng khắc sâu về Nhãn hiệu GR và Hình Hươu cao cổ của Nguyên đơn trong tâm trí người tiêu dùng. Giả sử các cuộc khảo sát được tiến hành từ nhiều năm trước, kết quả tất nhiên là sẽ còn tuyệt đối hơn nữa.

Từ những lập luận trên và căn cứ vào sự thật là người tiêu dùng Việt Nam

đã ngay lập tức liên kết Nhãn hiệu GR Và Hình Hươu cao cổ với Nguyên đơn như đã phân tích, các Dấu hiệu Xâm phạm bị coi là tương tự đến mức gây nhầm lẫn với các Nhãn hiệu GR Và Hình Hươu cao cổ đã đăng ký và nổi tiếng của Nguyên đơn. Do đó, việc sử dụng thực tế các Dấu hiệu Xâm phạm tạo ra nguy cơ nhầm lẫn cao về nguồn gốc của sản phẩm, gây tổn hại đến uy tín lâu năm của Nguyên đơn và các nhãn hiệu của Nguyên đơn tại Việt Nam.

- Nguyên đơn kết luận rằng việc Bị đơn sử dụng các Dấu hiệu Xâm phạm

cho các sản phẩm sữa là hành vi xâm phạm nhãn hiệu theo Điểm a, Điểm c và Điểm d Khoản 1 Điều 129 của Luật SHTT, cụ thể:

+ Các Dấu hiệu Xâm phạm đã được sử dụng trong hoạt động kinh doanh của

Bị đơn, cả trên môi trường điện tử trực tuyến cũng như trực tiếp, bao gồm nhưng không giới hạn ở việc gắn trên các bao bì sản phẩm và sử dụng trong các tài liệu quảng cáo của Bị đơn;

+ Các Dấu hiệu Xâm phạm tương tự đến mức gây nhầm lẫn với các Nhãn

hiệu của Abt; và

+ Việc sử dụng này không được phép của Nguyên đơn.

- Viện Khoa học Sở hữu trí tuệ đã kết luận về sự tương tự giữa các Dấu hiệu

Xâm phạm của Bị đơn và các Nhãn hiệu của Abt trong các kết luận giám định của mình đối với các Dấu hiệu Xâm phạm số 1 đến số 13. Theo đó, Viện KHSHTT kết luận rằng các Dấu hiệu Xâm phạm số 1 đến số 13 được coi là yếu tố xâm phạm quyền của Nguyên đơn đối với các nhãn hiệu đã đăng ký.

Theo cùng lập luận đó, các Dấu hiệu Xâm phạm còn lại cũng phải được xác

định là các yếu tố xâm phạm quyền của Nguyên đơn đối với các nhãn hiệu đã đăng ký, do sự giống nhau giữa các Dấu hiệu Xâm phạm còn lại và 13 Dấu hiệu Xâm phạm đã được giám định.

- Ngoài ra, Cục Quản lý thị trường tỉnh Ninh Bình đã tiến hành khám xét,

thu giữ nhiều sản phẩm mang nhãn hiệu “TH Pro Ens”, “TH Pro Pe S” và “TH Pro Gr IQ và Hình Hươu cao cổ” do Bị đơn sản xuất tại tỉnh Ninh Bình. Cơ quan quản lý thị trường đã ban hành các quyết định xử phạt hành chính số 28000018/QĐ-XPHC ngày 08 tháng 12 năm 2022 và 28000019/QĐ-XPHC ngày 15 tháng 12 năm 2022 kết luận các sản phẩm này đã xâm phạm quyền đối với các Nhãn hiệu của Abt và đã áp dụng các biện pháp phạt tiền và yêu cầu khắc phục hậu quả đối với người bán các Sản Phẩm Xâm Phạm.

* Hành vi của Bị đơn là hành vi cạnh tranh không lành mạnh đối với Nguyên

đơn:

- “ENS”, “PES”, “GLUR”, PROS ,“GR và Hình Hươu cao cổ” là các chỉ

dẫn thương mại của Nguyên đơn theo Khoản 2 Điều 130 Luật SHTT. Các nhãn hiệu này đều chỉ dẫn đến các sản phẩm sữa của Nguyên đơn vì chúng đã được sử dụng liên tục và thống nhất cho các sản phẩm này trong hơn 25 năm tại Việt Nam. Với lịch sử sử dụng lâu đời của Nguyên đơn và danh tiếng đặc biệt của các nhãn hiệu “ENS”, “PES”, “GLUR”, PROS ,“GR và Hình Hươu cao cổ”, những nhãn hiệu này được liên kết duy nhất với các sản phẩm của Nguyên đơn trong tâm trí người tiêu dùng Việt Nam.

- Bị đơn được thành lập vào năm 2018 và đã sản xuất các sản phẩm sữa kể

từ đó.

- Trước khi Bị đơn thành lập, Nguyên đơn đã sử dụng các chỉ dẫn thương

mại nêu trên một cách ổn định và công khai trong các hoạt động kinh doanh hợp pháp của mình tại Việt Nam.

- Do các nhãn hiệu của Nguyên đơn được biết đến rộng rãi bởi người tiêu

dùng tại Việt Nam và Bị đơn cùng hoạt động trong lĩnh vực sản xuất sữa, Bị đơn phải biết về các nhãn hiệu và các sản phẩm của Nguyên đơn. Do đó, việc sử dụng các Dấu hiệu Xâm phạm là nhằm lợi dụng danh tiếng và uy tín của Nguyên đơn đã được xây dựng trong nhiều năm.

- Việc Bị đơn sử dụng trái phép các nhãn hiệu nổi tiếng “ENS”, “PES”,

“GLUR”, PROS , “GR và Hình Hươu cao cổ” có khả năng gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng rằng hoạt động kinh doanh của Bị đơn có liên quan đến Nguyên đơn hoặc Bị đơn được phép sử dụng các nhãn hiệu của Nguyên đơn, trong khi điều này trái với thực tế. Việc sử dụng này gây thiệt hại đến danh tiếng, uy tín, lợi ích và quyền lợi hợp pháp của Nguyên đơn, do đó cấu thành hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo quy định tại Điều 130 Luật SHTT và Điều 19 Thông tư 11/2015/TT-BKHCN.

* Thiệt hại do hành vi xâm phạm nhãn hiệu và cạnh tranh không lành mạnh

của Bị đơn:

- Căn cứ Điều 204 và 205 Luật SHTT, Nguyên đơn được bồi thường thiệt

hại vật chất do hành vi xâm phạm nhãn hiệu và cạnh tranh không lành mạnh của Bị đơn cũng như chi phí luật sư hợp lý của Nguyên đơn. Các thiệt hại vật chất là 281.628.000 đồng.

- Để có được chứng cứ cần thiết cho vụ kiện, Nguyên đơn đã làm việc với

Thừa phát lại để xác nhận chứng cứ và lập các Vi Bằng, tổng chi phí là 41.028.000 đồng.

- Để chuẩn bị cho vụ kiện, Nguyên đơn đã nộp đơn yêu cầu giám định tại

Viện KHSHTT, tổng chi phí là 40.600.000 đồng.

- Nguyên đơn đã thanh toán 200.000.000 đồng chi phí luật sư cho vụ kiện

này cho Công ty Luật TNHH R để chuẩn bị và nộp đơn khởi kiện và tham gia vào quá trình tố tụng dân sự trong vụ kiện đối với Bị đơn.

Do đó, Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn bồi thường toàn bộ thiệt hại là

281.628.000 đồng.

Nguyên đơn kính đề nghị Quý Tòa giải quyết các yêu cầu cụ thể như sau:

1. Tuyên bố việc Bị đơn sử dụng các dấu hiệu trùng /tương tự với các Nhãn

hiệu của Abt là “ENS”, “PES”, “GLUR”, PROS, “GR và Hình Hươu cao cổ” là hành vi xâm phạm nhãn hiệu và cạnh tranh không lành mạnh;

2. Yêu cầu Bị đơn ngay lập tức chấm dứt việc sử dụng tất cả các dấu hiệu

mà xâm phạm các nhãn hiệu của Nguyên đơn, thu hồi và tiêu hủy toàn bộ sản phẩm, tài liệu kinh doanh mang các dấu hiệu xâm phạm đó;

3. Yêu cầu Bị đơn bồi thường toàn bộ thiệt hại do hành vi xâm phạm của Bị

đơn gây ra và chi phí luật sư của nguyên đơn là 281.628.000 đồng, bao gồm:

- Chi phí thừa phát lại: 41.028.000 đồng;

- Chi phí giám định tại Viện KHSHTT: 40.600.000 đồng;

- Chi phí luật sư: 200.000.000 đồng.

4. Yêu cầu bị đơn xin lỗi nguyên đơn công khai với các hành vi xâm phạm

của Bị đơn trên các trang báo điện tử Vnexpress.net và dantri.com.vn.

2- Bị đơn Công ty Cổ phần Thực phẩm NF trình bày:

- Thứ nhất, Nguyên đơn yêu cầu Tuyên bố việc Bị đơn sử dụng các dấu hiệu

trùng/tương tự với các Nhãn hiệu của Abt là hành vi xâm phạm nhãn hiệu và cạnh tranh không lành mạnh.

Về vấn đề này, các sản phẩm được cho là có dấu hiệu xâm phạm đều được

sản xuất theo đơn đặt hàng của các Nhà phân phối. Vì vậy, các kiểu dáng, logo, hình ảnh, màu sắc của nhãn hiệu sản phẩm đều được thiết kế theo yêu cầu của khách hàng, Công Ty thừa nhận chưa chú ý nhiều đến vấn đề Sở hữu trí tuệ và chưa có sự tìm hiểu trên thị trường đối với các sản phẩm mang dấu hiệu tương tự.

Vì lý do trên, Bị đơn mong muốn hai bên tiến hành hòa giải dựa trên nguyên

tắc thiện chí để không ảnh hưởng đến tình hình kinh doanh, sản xuất cũng như rút gọn được tiến trình giải quyết vụ án của Tòa án.

- Thứ hai, Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn ngay lập tức chấm dứt việc sử dụng

tất cả các dấu hiệu xâm phạm, thu hồi và tiêu hủy toàn bộ sản phẩm, tài liệu kinh doanh mang dấu hiệu xâm phạm.

Bị đơn đồng ý với yêu cầu ngay lập tức chấm dứt việc sử dụng tất cả các dấu

hiệu xâm phạm của Nguyên đơn. Thậm chí trước khi có yêu cầu khởi kiện từ phía Nguyên đơn, Bị đơn đã dừng sản xuất một số sản phẩm được cho là có dấu hiệu vi phạm từ cuối năm 2023 và tính đến nay đã hoàn tất việc dừng sản xuất tất cả các sản phẩm. Đồng thời, Bị đơn cũng không có kế hoạch sản xuất bất kỳ sản phẩm nào có dấu hiệu xâm phạm trong tương lai. Phía Bị đơn cam kết về tính chính xác và trung thực đối với nội dung này và sẽ chịu trách nhiệm trong trường hợp có vi phạm xảy ra sau cam kết này.

Còn việc thu hồi và tiêu hủy toàn bộ sản phẩm, tài liệu kinh doanh mang dấu

hiệu xâm phạm, các sản phẩm được lưu hành là mặt hàng sữa bột và có hạn sử dụng rất ngắn, vì vậy khi hết hạn sử dụng, các sản phẩm này cũng tự động được tiêu hủy và thu hồi.

- Thứ ba, về yêu cầu bồi thường thiệt hại và chi phí luật sư. Bị đơn đề nghị

nguyên đơn xem xét lại yêu cầu này vì phí luật sư trong trường hợp này là không hợp lý.

Theo khoản 3 Điều 168 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS 2015)

quy định rất rõ: “Chi phí cho người phiên dịch, luật sư do người có yêu cầu chịu, trừ trường hợp các bên đương sự có thoả thuận khác”. Vì Abt trong trường hợp này là người có yêu cầu nên không thể yêu cầu Bị đơn bồi thường chi phí luật sư. Ngoài ra, khoản phí luật sư được đề cập ở đây cũng không đưa ra được căn cứ xác định mức chi phí hợp lý của luật sư theo Điều 55 luật Luật Sư, vì vậy phía Bị đơn xét thấy không đủ căn cứ để bồi thường phần chi phí này.

Phía Bị đơn đề xuất bồi thường cho Nguyên đơn mức 100.000.000 Việt Nam

Đồng (bằng chữ: Một trăm triệu đồng chẵn) tương ứng với các chi phí và thiệt hại ước tính của Nguyên đơn.

- Thứ tư, về yêu cầu xin lỗi công khai trên trang báo điện tử Vnexpress.net

và dantri.com.vn, Bị đơn đề nghị Nguyên đơn xem xét lại yêu cầu này. Vì khi thực hiện việc công khai xin lỗi trên các phương tiện thông tin đại chúng sẽ gây ra hoang mang lo lắng cho người tiêu dùng về các sản phẩm của chính Abt cũng như ảnh hưởng đến ngành hàng sữa ở Việt Nam. Để thuận lợi cho cả hai bên, Bị đơn mong muốn được tiến hành hòa giải và đi đến sự thống nhất, thỏa thuận chung của cả hai bên.

* Tại phiên tòa hôm nay:

Các bên đương sự không xuất trình thêm tài liệu, chứng cứ gì mới.

- Nguyên đơn vẫn giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện.

- Bị đơn thừa nhận các hành vi xâm phạm như nguyên đơn nêu trong đơn

khởi kiện, Bị đơn thừa nhận sử dụng trái phép các nhãn hiệu nổi tiếng “ENS”, “PES”, “GLUR”, PROS , “GR và Hình Hươu cao cổ” có khả năng gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng và đồng ý với 03 yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cụ thể là :

+ Đồng ý yêu cầu tuyên bố việc Bị đơn sử dụng các dấu hiệu trùng/tương tự

với các Nhãn hiệu của Abt là hành vi xâm phạm nhãn hiệu và cạnh tranh không lành mạnh.

+ Bị đơn ngay lập tức chấm dứt việc sử dụng tất cả các dấu hiệu mà xâm

phạm các nhãn hiệu của Nguyên đơn, thu hồi và tiêu hủy toàn bộ sản phẩm, tài liệu kinh doanh mang các dấu hiệu xâm phạm ngoài thị trường và trên trang https://NF.com.vn/ của công ty.

+ Bị đơn đồng ý bồi thường thiệt hại và chi phí luật sư với số tiền là

281.628.000 đồng, trong đó: chi phí Thừa phát lại là 41.028.000 đồng; chi phí giám định tại Viện khoa học sở hữu trí tuệ là 40.600.000 đồng; chi phí luật sư là 200.000.000 đồng.

+ Đối với yêu cầu xin lỗi công khai trên trang báo điện tử Vnexpress.net và

dantri.com.vn của nguyên đơn, Bị đơn không đồng ý.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa

phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Đây là tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ về nhãn hiệu hàng hóa nên

Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội thụ lý và giải quyết vụ án kinh doanh thương mại theo thủ tục sơ thẩm là đúng quy định tại điều 30, 37 và 39 BLTTDS. Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và tiến hành phiên tòa. Thư ký đã làm đầy đủ nhiệm vụ và phổ biến nội quy phiên tòa. Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hôm nay, các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật, được tranh luận và trình bày căn cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Về nội dung: Nguyên đơn đã có nhãn hiệu AbLa từ lâu đời và đã được đăng ký

nhãn hiệu trên thế giới AbLa. Nguyên đơn đã đăng ký nhãn hiệu và được bảo hộ lần đầu vào năm 1900 do đó phải hiểu đây là nhãn hiệu nổi tiếng và được bảo hộ tại Việt Nam. Việc bị đơn đăng ký và sử dụng các dấu hiệu có chứa đựng hình ảnh “Nhãn hiệu của Abt” là nhãn hiệu nổi tiếng của nguyên đơn là vi phạm pháp luật Việt Nam.

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị

tuyên bố việc Bị đơn sử dụng các dấu hiệu trùng /tương tự với các Nhãn hiệu của Abt là “ENS”, “PES”, PROS, “GLUR”, “GR và Hình Hươu cao cổ” là hành vi xâm phạm nhãn hiệu và cạnh tranh không lành mạnh; Buộc Bị đơn ngay lập tức chấm dứt việc sử dụng tất cả các dấu hiệu mà xâm phạm các nhãn hiệu của Nguyên đơn, thu hồi và tiêu hủy toàn bộ sản phẩm, tài liệu kinh doanh mang các dấu hiệu xâm phạm đó và bồi thường toàn bộ thiệt hại do hành vi xâm phạm của Bị đơn gây ra và chi phí luật sư của nguyên đơn là 281.628.000 đồng, bao gồm: Chi phí thừa phát lại: 41.028.000 đồng, chi phí giám định tại Viện KHSHTT: 40.600.000 đồng, chi phí luật sư: 200.000.000 đồng. Buộc Bị đơn xin lỗi Nguyên đơn công khai với các hành vi xâm phạm của Bị đơn trên các trang báo điện tử Vnexpress.net và dantri.com.vn.

Về án phí : Bị đơn phải chịu án phí theo quy định

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên

toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, sau khi nghe ý kiến của các bên đương sự, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn là tranh chấp quyền

sở hữu trí tuệ, bị đơn có trụ sở tại thôn Đ, xã P, huyện QO, thành phố Hà Nội theo quy định khoản 2 Điều 30, Điều 37, khoản 3 của Điều 38 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

[2]. Về nội dung: Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hội đồng xét xử

nhận thấy:

Nguyên đơn được thành lập từ năm 1900 và gia nhập thị trường Việt Nam

từ năm 1995, được đăng ký bản quyền và được bảo hộ tại Việt Nam các nhãn hiệu “ENS”, “PES”, “GLUR”, “PROS” và “GR và Hình Hươu cao cổ” cho nhiều loại sữa, sữa bột và các sản phẩm dinh dưỡng (sau đây gọi là “Nhãn hiệu của Abt”). Chi tiết về các đăng ký nhãn hiệu, bao gồm nhưng không giới hạn, được liệt kê bên dưới:

Số đơn/ STT Nhãn hiệu

Ngày nộp Số bằng/ Ngày cấp bằng

Nhóm hàng hóa

đơn

29 – Sữa; sữa bột; sữa

4-2007-

112399ngày29/10/2008.Gia

chua; sữa tươi; sữa đặc; 1 ENS

19195

hạn giấy chứng nhận đăng

pho mai; sữa đậu nành.

25/9/2007 ký nhãn hiệu đến ngày

25.9.2027

151316 ngày 20/8/2010. 29 Sữa, sữa bột, sữa

4-2009-

Gia hạn giấy chứng nhận chua, sữa tươi, sữa đặc, 2 PES

03209

đăng ký nhãn hiệu số đến pho mai.

27/02/2009

ngày 27.2.2029

44807 ngày 13/01/2003 Gia

4-2001-

05Thực phẩm cho trẻ

hạn giấy chứng nhận đăng

3 PES

04156

em; chất ăn kiêng dùng

ký nhãn hiệu đến ngày

11/9/2001

trong ngành y.

11.9.2031

05 Chất bổ sungdinh

347737

ngày18/3/2020.

4-2017-

dưỡng; chất ăn kiêng;

Thời hạn hiệu lực giấy

4 GLUR

37163

chất bổ sung dinh

chứng nhận đăng ký nhãn

10/11/2017

dưỡng dùng cho mục

hiệu đến ngày 10/11/2027

đích y tế

05 Chất bổ sungdinh

dưỡng; chất ăn kiêng;

309942 ngày 04/12/2018

4-2016-

chất bổ sung dinh

Thời hạn hiệu lực giấy

5

08568

dưỡng dùng cho mục

chứng nhận đăng ký nhãn

31/3/2016

đích y tế 29–Chế phẩm

hiệu đến ngày 31/3/2026

sữa dạng bột; sữa và sản

phẩm sữa.

05Chất bổ sungdinh

dưỡng; chất ăn kiêng;

234080 ngày 24/10/2014

4-2013-

chất bổ sung dinh

Gia hạn giấy chứng nhận

6

08588

dưỡng dùng cho mục

đăng ký nhãn hiệu đến ngày

03/5/2013

đích y tế 29Chế phẩm

03.5.2033

sữa dạng bột; sữa và sản

phẩm sữa.

05 Chất bổ sungdinh

dưỡng; chất ăn kiêng;

chất bổ sung dinh

4-2013-

234078 ngày24/10/2014

dưỡng dùng cho mục 7

08586

Gia hạn giấy chứng nhận

đích y tế 29 Chế phẩm

03/5/2013 đăng ký nhãn hiệu đến ngày

sữa dạng bột; sữa và sản

03.5.2033

phẩm sữa.

05 Chất bổ sung dinh

dưỡng; chất ănkiêng;

234057 Ngày 24/10/2014

4-2013-

chất bổ sung dinh

Gia hạn giấy chứng nhận

8

08589

dưỡngdùngcho

mục

đăng ký nhãn đếnngày

03/5/2013

đích y tế 29 Chế phẩm

03.5.2033

sữa dạng bột; sữa và sản

phẩm sữa.

05-Chấtbổ

sungdinhdưỡng;chấtăn

232543 ngày 02/10/2014

4-2013-

kiêng; chất bổ sung dinh

Gia hạn giấy chứng nhận

9

08815

dưỡng dùng cho mục

đăng ký nhãn hiệu đến ngày

06/5/2013

đích y tế 29- Chế phẩm

06.5.2033

sữa dạng bột; sữa và sản

phẩm sữa.

05 Chất bổ sungdinh

dưỡng; chất ăn kiêng;

232544 ngày 02/10/2014

4-2013-

chất bổ sung dinh

Gia hạn giấy chứng nhận

10

08816

dưỡng dùng cho mục

đăng ký nhãn hiệu đến ngày

06/5/2013

đích y tế 29 Chế phẩm

06.5.2033

sữa dạng bột; sữa và sản

phẩm sữa.

89072Ngày19/9/2007.Gia

4-2005-

hạn giấy chứng nhận đăng 05 – Chất ăn kiêng dùng 11 PROS

11679

ký nhãn hiệu đến ngày

cho ngành y.

09/9/2005

09.9.2025

05 Chất bổ sungdinh

dưỡng; chất ănkiêng;

232542 ngày 02/10/2014

4-2013-

chất bổ sung dinh

Gia hạn giấy chứng nhận

12

08813

dưỡng dùngcho mục

đăng ký nhãn hiệu đến ngày

06/5/2013

đíchy tế.29 Chế phẩm

06.5.2033

sữa dạng bột; sữa và sản

phẩm sữa.

Theo quy định tại các điều 123, 124 và 125 Luật sở hữu trí tuệ, là chủ sở hữu

nhãn hiệu, nguyên đơn có quyền sử dụng và cho phép người khác sử dụng Nhãn hiệu của Abt đang được bảo hộ của mình. Việc bị đơn đã sử dụng các dấu hiệu trùng hoặc tương tự với các Nhãn hiệu của Abt, cả trên môi trường điện tử trực tuyến cũng như trực tiếp, để sản xuất, quảng bá, quảng cáo và phân phối các sản phẩm sữa, qua đó thực hiện việc kinh doanh, cung cấp dịch vụ tương tự với sản phẩm/dịch vụ Nhãn hiệu của Abt nhưng chưa được nguyên đơn cho phép sử dụng là hành vi xâm phạm nhãn hiệu. Hành vi xâm phạm Nhãn hiệu của Abt của Bị đơn đã được Viện Khoa học Sở hữu trí tuệ kết luận rằng các Dấu hiệu Xâm phạm số 1 đến số 12 nói trên được coi là yếu tố xâm phạm quyền của Nguyên đơn đối với các nhãn hiệu đã đăng ký. Việc Bị đơn sử dụng trái phép các nhãn hiệu nổi tiếng “ENS”, “PES”, “GLUR”, “ PROS” “GR và Hình Hươu cao cổ” có khả năng gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng rằng hoạt động kinh doanh của Bị đơn có liên quan đến Nguyên đơn hoặc Bị đơn được phép sử dụng các nhãn hiệu của Nguyên đơn, trong khi điều này trái với thực tế. Việc sử dụng này gây thiệt hại đến danh tiếng, uy tín, lợi ích và quyền lợi hợp pháp của Nguyên đơn, là hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo quy định tại khoản 1 Điều 130 Luật sở hữu trí tuệ

Vì vậy, Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố việc Bị đơn sử dụng

các dấu hiệu trùng /tương tự với các Nhãn hiệu của Abt là hành vi xâm phạm nhãn hiệu và cạnh tranh không lành mạnh; Yêu cầu Bị đơn ngay lập tức chấm dứt việc sử dụng tất cả các dấu hiệu mà xâm phạm các nhãn hiệu của Nguyên đơn, thu hồi và tiêu hủy toàn bộ sản phẩm, tài liệu kinh doanh mang các dấu hiệu xâm phạm đó là có căn cứ, phù hợp quy định tại Điều 129; khoản 1 Điều 130 và khoản 1, khoản 5 Điều 202 Luật sở hữu trí tuệ.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận yêu cầu

khởi kiện này của nguyên đơn.

Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn bồi thường số tiền

281.628.000 đồng đối với những thiệt hại mà nguyên đơn phải gánh chịu phát sinh từ hành vi cạnh tranh không lành mạnh của Bị đơn gây ra bao gồm: Chi phí thừa phát lại: 41.028.000 đồng; Chi phí giám định tại Viện KHSHTT: 40.600.000 đồng; Chi phí luật sư: 200.000.000 đồng.

Hội đồng xét xử nhận thấy, trong vụ án này hành vi của Bị đơn sử dụng các

dấu hiệu trùng /tương tự với các Nhãn hiệu của Abt là hành vi xâm phạm nhãn hiệu và cạnh tranh không lành mạnh, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ theo quy định tại Điều 129, khoản 1 Điều 130 Luật Luật sở hữu trí tuệ, do đó bị đơn có trách nhiệm bồi thường cho nguyên đơn theo khoản 4 điều 202 Luật sở hữu trí tuệ

Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện, thì thiệt hại mà nguyên

đơn phải chịu là 41.028.000 đồng tiền lập vi bằng 200.000.000 đồng là tiền chi phí Luật sư và 40.600.000 đồng là chi phí giám định tại Viện KHSHTT; Nguyên đơn đã xuất trình được các tài liệu chứng cứ chứng minh cho các thiệt hại thực tế . Tổng số tiền thiệt hại nguyên đơn yêu cầu bị đơn bồi thường tại phiên tòa sơ thẩm là 281.628.000 đồng, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn .

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải xin lỗi công khai

nguyên đơn trên các phương tiện thông tin đại chúng, cụ thể là đăng lời xin lỗi công khai trên các trang báo điện tử Vnexpress.net và dantri.com.vn. Như đã phân tích trên, hành vi của bị đơn sử dụng các dấu hiệu trùng /tương tự với các Nhãn hiệu của Abt là hành vi xâm phạm nhãn hiệu và cạnh tranh không lành mạnh, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nên căn cứ vào khoản 2 Điều 202 Luật SHTT, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn.

Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định

của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Khoản 2 Điều 30; Điều 37; khoản 3 Điều 38; Điều 271; Điều 273;

Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Căn cứ Điều 3; khoản 16 Điều 4; Điều 6; Điều 72; Điều 74; Điều 123; Điều

124;Điều 125;Điều 129; Điều 130; Điều 202 Luật sở hữu trí tuệ

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy

ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử:

1. Tuyên bố việc Bị đơn sử dụng các dấu hiệu trùng /tương tự với các Nhãn

hiệu của Abt là “ENS”, “PES”, “GLUR”, “PROS”, “GR và Hình Hươu cao cổ” là hành vi xâm phạm nhãn hiệu và cạnh tranh không lành mạnh.

* Buộc Bị đơn ngay lập tức chấm dứt việc sử dụng tất cả các dấu hiệu xâm

phạm các nhãn hiệu của Nguyên đơn, thu hồi và tiêu hủy toàn bộ sản phẩm, tài liệu kinh doanh mang các dấu hiệu xâm phạm Nhãn hiệu của Abt là “ENS”, “PES”, “GLUR”, “PROS” ,“GR và Hình Hươu cao cổ”

* Buộc Bị đơn bồi thường 281.628.000 đồng cho Nguyên đơn, bao gồm:

- Chi phí thừa phát lại: 41.028.000 đồng;

- Chi phí giám định tại Viện KHSHTT: 40.600.000 đồng;

- Chi phí luật sư: 200.000.000 đồng.

* Buộc Bị đơn xin lỗi nguyên đơn công khai về các hành vi xâm phạm của

Bị đơn trên các trang báo điện tử Vnexpress.net và dantri.com.vn.”

2. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm 14.081.400đ. Hoàn trả nguyên đơn

7.040.000đ tạm ứng án phí nguyên đơn đã nộp theo biên lai 23226 ngày 16/4/2024 tại chi cục thi hành án thành phố Hà Nội

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến

khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án có hiệu lực pháp luật được thi hành án theo quy định tại

Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15

ngày kể từ ngày tuyên án.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ