- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đỗ A - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đỗ A phạm tội “Hủy hoại tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2024/HSST Ngày 30/01/2024 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Loan;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Hạnh;
Ông Phí Văn Chân.
- Thƣ ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Vân - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm tham gia phiên tòa: Bà Bà Nguyễn Thị Huyên, Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 03/2024/TLST-HS, ngày 10/01/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2024/QĐ-TA ngày 19/01/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Đỗ A, sinh năm1984 tại Hà Nội; Giới tính: Nam; Nơi thường trú: Tổ dân phố số 1, phường L, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Đảng viên (Hiện đang bị đình chỉ sinh hoạt cấp ủy); Họ và tên cha: Nguyễn Văn Đ (Đã chết); Họ và tên mẹ: Đỗ Thị D, sinh năm 1959; Vợ: Nguyễn Thị Hồng H, sinh năm 1992; Có hai con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ 2015; Danh chỉ bản số 563 do Công an quận Bắc Từ Liêm lập ngày 18/10/2023; Tiền án, tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; Có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Chị Ngô Thị Tuyết B, sinh năm 1987; Nơi thường trú : Tổ dân phố số 5, phường H, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; Nơi cư trú: Tổ dân phố số 2, phường L, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội; Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Do mâu thuẫn trong việc giải quyết tranh chấp chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất vợ chồng chị Ngô Thị Tuyết B đang quản lý sử dụng. Khoảng 18 giờ 40 ngày 03/7/2020, bị cáo Nguyễn Đỗ A đến nhà chị B để đòi tiền và cùng đi với anh Nguyễn Quang D, anh Đỗ Duy Đ, anh Nguyễn B Chiến và anh Lê Đoài O (Bốn) đều là nhân viên Văn phòng môi giới nhà đất Tây Từ Liêm để làm chứng cho bị cáo về việc vợ chồng chị B đã đặt cọc, thỏa thuận mua đất với bị cáo.
Khi đến nhà chị B, tất cả ngồi ở bộ bàn ghế uống nước, bị cáo và chị B ngồi ở hai ghế rời cạnh nhau. Các anh Đ, C, D và B ngồi ở ghế dài đối diện, do chỗ ngồi chật nên người quay mặt ra, người quay mặt vào bàn uống nước. Anh Ngô B Thanh, chồng chị B ngồi ở đầu bàn, cạnh chị B. Lúc này trong nhà chị B còn có anh Ngô Xuân T là em họ của anh T và chị Đoàn Thị Bích H là hàng xóm của chị B đứng ở cầu thang lên tầng 2.
Quá trình nói chuyện, hai bên đã to tiếng cãi nhau về số tiền 500 triệu đồng, chị B cầm điện thoại trên tay, hướng về phía bị cáo, bị cáo và những người đi cùng nghĩ chị B đang quay video. Trong lúc bực tức, bị cáo đã giật điện thoại trên tay chị B và ném điện thoại của chị B xuống nền nhà hướng cửa ngách bên phải tính từ vị trí bị cáo đang ngồi làm điện thoại văng ra sân. Thấy bị cáo ném điện thoại, chị B gọi điện cho ông Nguyễn Lâm T là cảnh sát khu vực trình báo. Khoảng 10 phút sau, ông T đến. Lúc đó, bị cáo vẫn ở lại nhà chị B. Sau khi chị B trình bày sự việc, chị B và ông T đã tìm điện thoại nhưng không thấy, ông T yêu cầu chị B tiếp tục tìm điện thoại và trích xuất hình ảnh từ camera. Khi ông T và công an phường đến làm việc, lập biên bản phòng ngừa, đã không thấy điện thoại đâu và nói với chị lúc nào tìm thấy điện thoại thì mang lên Công an phường. Tại phiên tòa, bị cáo và chị B đã khai rõ là nội dung biên bản không ghi nội dung bị cáo đập vỡ (Ném) điện thoại của chị B mà chỉ nhắc nhở, phòng ngừa các bên không đánh nhau, gây mất trật tự trị an.
Ngày 07/7/2020, chị Ngô Thị Tuyết B có đơn tố giác: vào ngày 03/7/2020, bị cáo A có hành vi hủy hoại tài sản của chị là chiếc điện thoại Samsung Galaxy A9 tại nhà của chị B; Địa chỉ: Số 18, ngõ 241/19/29, đường Liên Mạc, phường Liên Mạc, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội (BL 33, 34). Kèm theo đơn, chị B giao nộp 01 USB chứa dữ liệu do chị B trích xuất hình ảnh từ hệ thống camera của gia đình ghi lại hình ảnh bị cáo A giật điện thoại của chị B ném ra ngoài sân và 01 giấy biên nhận thanh toán mua điện thoại Samsung Galaxy A9 A920 Blue, số Imei 359933092661377 của cửa hàng điện máy xanh số 260 đường Cầu Giấy, phường Quan Hoa, quận Cầu Giấy (Ngày 04/10/2019) với giá 6.690.000đồng.
Bị cáo khai: Khi thấy chị B cầm điện thoại hướng về phía mình, khua khoắng, quay video bị cáo đã nhắc chị B cất đi nhưng chị B không cất nên bị cáo đã giằng và ném điện thoại của chị B và đi ra phía cửa ngách vài giây cho đỡ bực tức rồi lại quay vào nói chuyện tiếp. Sau đó Công an phường Liên Mạc đến nhưng không thu giữ điện thoại. Bị cáo chỉ biết là vứt điện thoại của chị B xuống đất do bực tức, bị cáo không rõ chiếc điện thoại trên là điện thoại loại gì nhưng đồng ý với truy tố tại cáo trạng là bị cáo đã hủy hoại chiếc điện thoại Samsung Galaxy A9 A920 Blue.
Kết luận định giá tài sản số 184/KL-ĐGTS ngày 03/8/2020 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự quận Bắc Từ Liêm kết luận: 01 chiếc điện thoại Samsung Galaxy A9 A920 Blue, số Imei 359933092661377 đã qua sử dụng, không thu giữ được, có tài sản tương tự trị giá 3.000.000đồng.
Chị B đề nghị bị cáo bồi thường giá trị chiếc điện thoại theo quy định của pháp luật, bằng giá trị tài sản đã được định giá. Trước khi xét xử, bị cáo A đã đề nghị bồi thường với chị B nhưng chị B không đồng ý nên đã tự nguyện nộp tiền bồi thường giá trị chiếc điện thoại bị cáo hủy hoại là 3.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm.
Tại Cáo trạng số 359/CT-VKS ngày 30/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm đã truy tố bị cáo Nguyễn Đỗ A về tội “Hủy hoại tài sản” theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo: Thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội với nội dung nêu trên. Bị cáo đã nhiều lần đề nghị chị B về bồi thường nhưng chị B không đồng ý nên đã nộp 3.000.000 đồng khắc phục hậu quả thiệt hại là chiếc điện thoại bị hủy hoại của chị B theo cáo trạng và giá trị định giá tại Chi cục Thi hanh án dân sự quận Bắc Từ Liêm.
- Bị hại: Bị cáo đã giật điện thoại trên tay bị hại và đập xuống đất. Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị chiếc điện thoại như định giá là 3.000.000 đồng và đề nghị xét xử nghiêm B, đúng tội, đúng pháp luật đối với bị cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đỗ A mức án từ 06 tháng – 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách từ 12-18 tháng kể từ ngày tuyên án; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; Về dân sự: Bị cáo phải bồi thường cho bị hại giá trị tài sản bị hủy hoại là 3.000.000 đồng, xác nhận bị cáo đã nộp tiền bồi thường trước khi xét xử, cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, điều tra viên, Cơ quan kiểm sát, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố được thực hiện theo đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục, đúng các quy định của pháp luật. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến, khiếu nại, tố cáo gì đối với quyết định, hành vi tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó quyết định, hành vi tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này là hợp pháp. Tuy nhiên về thời hạn giải quyết tin báo còn kéo dài.
. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đủ căn cứ xác định: Khoảng 19 giờ ngày 03/7/2020 tại số 18, ngõ 241/19/29, đường Liên Mạc thuộc tổ dân phố Đại Cát 2, phường Liên Mạc, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội, bị cáo Nguyễn Đỗ A đã có hành vi hủy hoại tài sản là chiếc điện thoại Samsung Galaxy A9 A920 Blue, số Imei 359933092661377 đã qua sử dụng, trị giá 3.000.000 đồng của chị Ngô Thị Tuyết B. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Hủy hoại tài sản”. Tội phạm và hình phạt áp dụng đối với bị cáo được quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự.
. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự, an ninh địa phương.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trước khi xét xử, bị cáo đã tự nguyện nộp tiền bồi thường giá trị tài sản bị cáo đã hủy hoại, thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, lần đầu có hành vi vi phạm pháp luật và phạm tội ít nghiêm A nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ là: “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại và khắc phục hậu quả”; “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm A”; “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Xét hành vi phạm tội, tính chất tội phạm, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thấy cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo, giao bị cáo về chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát giao dục trong thời gian thử thách cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về dân sự: Bị cáo đã làm hủy hoại tài sản có giá trị 3.000.000 đồng theo giá trị tài sản được Hội đồng định giá trong tố tụng định giá, bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường tài sản bị hủy hoại theo quy định của pháp luật, cần buộc bị cáo bồi thường cho bị hại giá trị tài sản bị hủy hoại là 3.000.000 đồng. Bị cáo đã nộp tiền bồi thường trước khi xét xử cho bị hại là 3.000.000 đồngtại Chi cục Thi hành án dân sự, cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và mức án phí phải nộp theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đỗ A phạm tội “Hủy hoại tài sản”.
2. Về điều luật áp dụng:
- Khoản 1 Điều 178; Điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65; Điều 47 của Bộ luật hình sự;
- Các điều 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
3. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đỗ A 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Liên Mạc, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự hai lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người phải thi hành án thay đổi nơi cư trú trong thời hạn thử thách thì thực hiện theo quy định tại Điều 95 của Luật Thi hành án hình sự.
4. Về các vấn đề khác
4.1. Về dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho chị Ngô Thị Tuyết B số tiền 3.000.000 đồng, xác nhận bị cáo đã nộp số tiền trên tại Biên lai thu tiền số 0033592 ngày 13/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm. Cần tạm giữ số tiền này để đảm bảo thi hành án.
4.2. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4.3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Người tham gia tố tụng; - Tòa án nhân dân TP Hà Nội; - Viện kiểm sát nhân dân TP Hà Nội; - Viện kiểm sát nhân dân Q. Bắc Từ Liêm; - Công an quận Bắc Từ Liêm; - Chi cục THADS Q. Bắc Từ Liêm; - Sở Tư pháp TP Hà Nội; - Lưu hồ sơ; Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Loan |