vanban.org

Bản án 20/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 06/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K (Tên gọi khác: Nguyễn Khắc K) phạm tội: “Trộm cắp tài sản”;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K (Nguyễn Khắc K), 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 28/10/2023. (Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 27 tháng 02 năm 2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phúc Yên). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn K (Tên gọi khác: Nguyễn Khắc K) phạm tội: “Trộm cắp tài sản” - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K (Tên gọi khác: Nguyễn Khắc K) phạm tội: “Trộm cắp tài sản”;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHÚC YÊN
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/ 2024/HS-ST
Ngày 06 - 3 -2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Thúy

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phan Thị Nhung và bà Nguyễn Thị Kim Luyến

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Nhật Mai- Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 03 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn K, (Tên gọi khác: Nguyễn Khắc K), sinh năm 1995; địa chỉ: TDP N, phường N, thành phố H, tỉnh Hải Dương; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 06/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Khắc C và con bà Đặng Thị T, có vợ và 02 con lớn sinh năm 2019; nhỏ sinh năm 2022; tiền án; Tiền sự: Không

* Về nhân thân của bị cáo:

(1) Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 17/HSST ngày 31/5/2013 của TAND huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương xử phạt Nguyễn Văn K 12 tháng tù về tội: “Cướp giật tài sản”. Chấp hành xong ra trại ngày 30/5/2014, án phí 200.000 đồng chấp hành xong ngày 28/10/2013 (khi phạm tội K mới 17 tuổi 07 tháng 10 ngày), đã xóa án tích.

(2) Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 20/HSST ngày 26/6/2015 của TAND huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương xử phạt K 21 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Ra trại ngày 03/01/2017; ngày 3/3/2016 đã nộp xong án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng và án phí dân sự 200.000 đồng; đã xóa án tích.

(3) Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 63/HSST ngày 21/7/2020 của TAND huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh; xử phạt K 18 tháng tù về tội: “Cố ý gây thương tích”. Ra trại ngày 01/9/2021; án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng chấp hành xong ngày 17/9/2020, đã xóa án tích.

Bị cáo Nguyễn Văn K bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/10/2023 đến nay, có mặt.

* Người bị hại:

- Anh Vũ Văn C, sinh năm 1998;

Địa chỉ: TDP N, phường N, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt;

- Bà Trần Thị H, sinh năm 1968;1960

Địa chỉ: TDP Y, phường X, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt;

* Người làm chứng:

- Ông Vũ Văn H, sinh năm 1965; vắng mặt;

- Ông Đào Văn T, sinh năm 1970; vắng mặt;

* Người chứng kiến:

- Bà Vũ Thị T, sinh năm 1960; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 20/10/2023, do mâu thuẫn gia đình nên Nguyễn Văn K đưa vợ và hai con của K đến thuê nhà trọ tại gia đình bà Lê Thị P, sinh năm 1976, trú tại khối 5, xã P, huyện S, thành phố Hà Nội để tìm việc làm.

Trong thời gian chờ tìm việc làm do không có tiền, nên K nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Ngày 27/10/2023 K mượn điện thoại của vợ là chị Sùng Thị H (số thuê bao 0358.113.662) gọi điện cho bạn là Nguyễn Văn X, sinh năm 1998 nhà ở khu dân cư N, phường N, thành phố H, tỉnh Hải Dương (số điện thoại của X là 0876.390.182) để rủ X đi trộm cắp chó. Nguyễn Văn X đồng ý, để tiện cho việc cùng đi trộm cắp, nên X đã đến thuê phòng trọ số 2 của gia đình bà P cùng dãy trọ với K. Sau đó, X đi mua một bộ kích điện và dây điện về phòng trọ rồi cùng với K tự chế một bộ kích điện, K và X thống nhất sáng ngày 28/10/2023 sẽ đi trộm cắp chó.

Khoảng 04 giờ 00 phút ngày 28/10/2023, X điều khiển xe máy Exciter (BKS đã bị sơn đen phủ kín) của X chở K đi từ phòng trọ, K ngồi sau cầm bộ kích điện đi đến thành phố Phúc Yên để trộm cắp chó. Nguyễn Văn X điều khiển xe máy chở K đi từ phòng trọ ra ngã ba Phủ Lỗ rồi đi theo đường Quốc lộ 2A lên Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, khi đi đến đoạn đường Quốc lộ 2 qua Cầu XuânPhương rẽ trái đi vào đường Hàm Nghi đi về hướng Công ty Honda, phường Phúc Thắng, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Khi đi đến đoạn đường Hàm nghi qua cổng Trung tâm đào tạo lái xe của Công ty Honda Việt Nam một đoạn thì cả hai nhìn thấy 01 con chó màu đen đang ở ven đường, Nguyễn Văn X điều khiển xe áp sát con chó để K ngồi sau dùng dây thòng lọng quăng vào cổ con chó rồi bấm bật công tắc điện làm cho con chó bị điện giật, bất tỉnh. Lúc này K xuống ôm con chó lên xe máy, lấy băng dính màu xanh cuốn quanh mồm con chó rồi bỏ vào bao tải rồi tiếp tục đi trộm cắp chó.

Khoảng 05 giờ 05 phút cùng ngày Nguyễn Văn X tiếp tục điều khiển xe máy chở K đi quay lại đường Hàm Nghi ra đường Quốc lộ 2A rồi đi vào đường Đại Phùng đi vào làng Yên Mỹ, phường Xuân Hòa để tiếp tục trộm cắp chó. X điều khiển xe máy chở K đi lòng vòng trong các đường trong làng Yên Mỹ, phường Xuân Hòa. Khoảng 05 giờ 15 phút cùng ngày, khi đi đến ngõ 3 phố Nhà Chung thì thấy 01 con chó giống cái lông màu đen- xám, của gia đình bà Trần Thị H, nên X điều khiển xe áp sát con chó để K ngồi sau cầm thòng lọng quăng vào cổ con chó rồi bấm bật công tắc điện làm con chó bị điện giật bất tỉnh, K xuống ôm con chó lên xe lấy băng dính xanh cuốn quanh mồm con chó, rồi nhét con chó vào bao tải.

Sau đó X tiếp tục điều khiển xe môtô đi từ làng Yên Mỹ ra đường Nguyễn Tất Thành. Khoảng 06 giờ 10 phút cùng ngày X điều khiển xe môtô đi vào đường Ba Hanh đến ngõ 14 thuộc TDP N, phường N, thành phố P thì phát hiện có một con chó giống đực lông màu đen- xám của gia đình anh Vũ Văn C; nên X điều khiển xe áp sát vào con chó để K ngồi sau dùng thòng lọng quăng vào cổ con chó, bấm bật công tắc điện làm con chó bị điện giật bất tỉnh. K xuống xe ôm con chó lên xe, dùng băng dính xanh cuốn quanh vào mồm con chó rồi đúc vào bao tải. Ngay lúc này anh C và người dân phát hiện hô hoán, X điều khiển xe chở K bỏ chạy thì bị ngã xe ra đường. Nên K và X để lại xe máy cùng bảo tải đựng chó vừa trộm cắp được, X và K bỏ chạy được một đoạn thì K bị người dân đuổi theo bắt giữ, còn X bỏ chạy thoát; 01 con chó màu đen tỉnh dậy thoát khỏi bao tải chạy ra ngoài.

* Vật chứng thu giữ và xử lý vật chứng:

- 01 con chó đực, loại chó lai, màu lông đen xám có trọng lượng là 18 kg của anh C và 01 con chó cái màu lông đen- xám, trên 02 tai đều có vết sẹo, trên thân có nhiều ký sinh trùng (ve chó) có trọng lượng là 22kg của bà H; Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại anh Vũ Văn C con chó 18 kg và bà Trần Thị H 01 con chó có trọng lượng là 22kg. Nay anh C và bà H không yêu cầu, đề nghị gì khác.

- 01 bao tải xác rắn màu trắng và 01 bộ kích điện tự chế là công cụ sử dụng để phạm tội, chuyển sang Chi cục thi hành án dân sự chờ xử lý.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 63/KL-HĐĐGTS ngày 30/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Phúc Yên kết luận: 01 con chó đực, loại chó lai, có màu lông đen xám có trọng lượng 18 kg trị giá là 1.440.000 đồng và 01 con chó cái màu lông đen- xám, trên 02 tai đều có vết sẹo, trên thân có nhiều ký sinh trùng (ve chó) có trọng lượng 22 kg trị giá là 1.760.000 đồng. Tổng trị giá 02 con chó nêu trên là 3.200.000 đồng.

- 01 xe môtô nhãn hiệu Yahama, xe bị sơn đen phủ kín biển kiểm soát. Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra chiếc xe môtô trên có gắn BKS 34B2- 705.88, đăng kí xe đứng tên Nguyễn Đức H, sinh năm 1987 trú tại xã H, huyện G, tỉnh Hải Dương. Tháng 11/2022, anh H đã bán cho cửa hàng xe máy Đức K; ngày 30/11/2022 cửa hàng đã bán lại cho người khác, không có giấy tờ mua bán. Nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau về chiếc xe này.

Riêng đối với chiếc điện thoại có lặp số thuê bao 0358.113.662, K khai nhận có sử dụng để gọi rủ X đi trộm cắp chó, là tài sản hợp pháp của chị Sùng Thị H (vợ K) cho K mượn. Chị H không biết K sử dụng để rủ X đi trộm cắp chó; do vậy cơ quan điều tra không thu giữ.

Ngoài ra bị cáo K còn khai nhận ngày 28/10/2023 đã cùng với X trộm cắp 01 con chó màu đen tại đoạn đường Hàm Nghi thuộc phường Phúc Thắng, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Sau khi bị người dân phát hiện, K và X đã bỏ lại bao tải đựng chó, thì con chó màu đen này đã tự thoát được ra ngoài bao tải bỏ chạy ra cánh đồng gần đó. Nay Cơ quan điều tra không thu giữ được con chó, không xác định được trọng lượng và không xác định được chủ sở hữu con chó là ai.

Đối với Nguyễn Văn X, sinh năm 1988; địa chỉ: Khu dân cư N, phường N, thành phố H, tỉnh Hải Dương là người bị cáo K khai đã cùng với K đi trộm cắp chó ngày 28/10/2023. Cơ quan điều tra đã nhiều lần triệu tập X đến làm việc; nhưng X đều vắng mặt. Hiện tại X không có mặt tại địa phương, chưa có lời khai của X, chưa đủ cơ sở để khởi tố đối với X, Cơ quan điều tra tiếp tục triệu tập, điều tra làm rõ xử lý sau.

Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn K đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại Cáo trạng số: 28/CT-VKSPY ngày 19 tháng 02 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên đã truy tố Nguyễn Văn K về tội: “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự;

Tại phiên toà, Kiểm sát viên luận tội đối với bị cáo: Giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng đối với bị cáo Nguyễn Văn K; sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51; đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K từ 12 tháng đến 14 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 28 tháng 10 năm 2023;

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo; đề nghị xử lý vật chứng như cáo trạng, bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; nghe lời khai của bị cáo, ý kiến của Kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Phúc Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện theo quy định của pháp luật.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo là phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám nghiệm hiện trường, Biên bản khám nghiệm phương tiện, bản ảnh, Kết luận định giá, Biên bản nhận dạng và phù hợp với vật chứng đã thu giữ có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 05giờ 15 phút ngày 28/10/2023 tại Tổ Yên Mỹ, phường Xuân Hòa, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc; Nguyễn Văn K đã có hành vi trộm cắp của bà Trần Thị H 01 con chó có trọng lượng 22kg trị giá 1.760.000đồng. Khoảng 06 giờ 10 phút ngày 28/10/2023 tại Tổ dân phố Nam Viêm, phường Nam Viêm, thành phố Phúc Yên; Nguyễn Văn K lại có hành vi trộm cắp 01 con chó của anh Vũ Văn C có trọng lượng 18kg trị giá 1.440.000 đồng. Tổng giá trị tài sản Nguyễn Văn K trộm cắp là 3.200.000đồng (Ba triệu hai trăm nghìn đồng).

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn K là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố. Do vậy phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Hành vi nêu trên của bị cáo K đã phạm tội: “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự như sau:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000đồng nhưng thuộc các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc truy tố bị cáo theo Cáo trạng số: 28/CT - VKSPY ngày 19 tháng 02 năm 2024 là hoàn toàn có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của Nguyễn Văn K là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an địa phương. Do vậy, cần phải đưa ra để xử lý nghiêm minh trước pháp luật nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét nhân thân, tính chất vụ án và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy:

Bị cáo đã 03 lần bị Tòa án xét xử về tội: “Cướp giật tài sản”, “Trộm cắp tài sản” và “Cố ý gây thương tích”; hiện đã được xóa án tích. Nhưng bị cáo không coi đó là bài học để tu dưỡng bản thân, nay lại tiếp tục phạm tội. Tuy nhiên quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo luôn thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 của Bộ luật hình sự. Nhưng cần áp dụng hình phạt tù giam như đề nghị của Viện kiểm sát mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Qua xác minh và làm rõ tại phiên tòa, bị cáo không có thu nhập ổn định, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn. Nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.

Về xử lý vật chứng của vụ án:

Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại anh Vũ Văn C 01 con chó có trọng lượng 18 kg và bà Trần Thị H 01 con chó có trọng lượng là 22kg. Nay anh C và bà H không yêu cầu, đề nghị gì khác.

- 01 bao tải xác rắn màu trắng và 01 bộ kích điện tự chế là công cụ K sử dụng để phạm tội, cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 xe môtô nhãn hiệu Yahama, xe bị sơn đen phủ kín biển kiểm soát. Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra chiếc xe môtô trên có gắn BKS 34B2- 705.88, đăng kí xe đứng tên Nguyễn Đức H, sinh năm 1987 trú tại xã H, huyện G, tỉnh Hải Dương. Tháng 11/2022, anh H đã bán cho cửa hàng xe máy Đức K địa chỉ phường Thanh Bình, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương. Ngày 30/11/2022 của hàng xe máy Đức K đã bán lại cho người khác, không có giấy tờ mua bán, nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau về chiếc xe này.

Đối với chiếc điện thoại có lặp số thuê bao 0358.113.662, K khai nhận có sử dụng để gọi đến số thuê bao 0876.390.182 rủ X đi trộm cắp chó, là tài sản hợp pháp của chị Sùng Thị H (vợ K) đã cho K mượn. Chị H không biết K sử dụng để rủ X đi trộm cắp chó; do vậy cơ quan điều tra không thu giữ là phù hợp.

- Qua xác minh số điện thoại 0876.390.182 là đăng ký tên Nguyễn Thanh T, sinh năm 1988; địa chỉ: KP T, T.T P, Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận. Anh Toàn trình bày không đăng ký sử dụng số thuê bao 0876.390.182 trên và không quen biết ai tên là Nguyễn Văn X, SN 1998 và Nguyễn Văn K, SN 1995; đều ở địa chỉ: Tổ dân phố N, phường N, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét, giải quyết.

Ngoài ra, Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo K còn khai ngày 28/10/2023 còn cùng X trộm cắp 01 con chó màu đen, tại đoạn đường Hàm Nghi thuộc phường Phúc Thắng, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Sau khi bị người dân phát hiện, K đã bỏ lại bao tải đựng chó, thì con chó màu đen này đã tự thoát bỏ chạy ra cánh đồng ở gần đó. Cơ quan điều tra không thu giữ được con chó, không xác định được trọng lượng con chó và không xác định được chủ sở hữu là ai, nên không có cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét.

Đối với Nguyễn Văn X, sinh năm 1988; trú tại khu dân cư N, phường N, thành phố H, tỉnh Hải Dương là người bị cáo K khai nhận đã cùng với K đi trộm cắp chó ngày 28/10/2023. Cơ quan điều tra đã nhiều lần triệu tập X đến làm việc; nhưng X đều vắng mặt, X không có mặt tại địa phương. Hiện tại chưa lấy được lời khai của X, chưa đủ cơ sở để khởi tố đối với X, nên Cơ quan điều tra tiếp tục triệu tập, điều tra làm rõ xử lý sau là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K (Tên gọi khác: Nguyễn Khắc K) phạm tội: “Trộm cắp tài sản”;

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K (Nguyễn Khắc K), 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 28/10/2023.

Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 bao tải xác rắn màu trắng, 01 bộ kích điện tự chế (gồm 01 kích điện và 01 dây thòng lọng);

(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 27 tháng 02 năm 2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phúc Yên).

Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; buộc bị cáo Nguyễn Văn K phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng);

Bị cáo có mặt quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ