vanban.org

Bản án 20/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Lào Cai, tỉnh Lào Cai Tuyên án 14/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1.Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị M phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”;

2.Áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo Hoàng Thị M: Xử phạt bị cáo Hoàng Thị M số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng). Xác nhận bị cáo Hoàng Thị M đã nộp 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 000461 ngày 07/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thàn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Thị M - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (điều 341 Luật…"
  • Tòa quyết gì? 1.Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị M phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LÀO CAI
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2024/HS-ST
Ngày 14-3-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Minh Yên

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Bà Mai Thị Hiền

2.Ông Nguyễn Kim Minh

- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Hải Yến – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 03/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2024, đối với bị cáo:

Hoàng Thị M, tên gọi khác: không; Sinh ngày 09 tháng 8 năm 1988 tại L, Yên Bái; Nơi thường trú: Tổ D, phường K, thành phố L, tỉnh Lào Cai; Nơi ở hiện tại: Số nhà B đường A, Tổ A, phường K, thành phố L, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Văn S và con bà Hoàng Thị Đ; bị cáo có chồng là Đỗ Xuân Q (đã ly hôn năm 2019); Chồng La Văn Q1 và 03 con; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Cuối năm 2022, Hoàng Thị M quen và nảy sinh tình cảm với La Văn Q1 (hiện đang công tác tại Tiểu đoàn Cảnh sát Cơ động số D1, Bộ C1), dẫn đến có thai. Ngày 06/8/2023, Hoàng Thị M sinh con tại Bệnh viện đa khoa thành phố L, tỉnh Lào Cai, tuy nhiên La Văn Q1 chưa có thông báo của cơ quan về việc cho phép đăng ký kết hôn với Hoàng Thị M. Đến ngày 04/10/2023 Hoàng Thị M đăng ký kết hôn với La Văn Q1. Do lo sợ La Văn Q1 sẽ bị kỷ luật nên Hoàng Thị M đã lên mạng tìm mua giấy chứng sinh giả, lấy ngày sinh con sau ngày đăng ký kết hôn với La Văn Q1. Hoàng Thị M liên hệ qua facebook “Nguyễn C” nhận làm giấy chứng sinh giả cho M với giá 1.380.000 đồng. Ngày 09/10/2023 M nhận được giấy chứng sinh giả (ngày sinh con là ngày 06/10/2023); Ngày 13/10/2023 M cầm giấy chứng sinh giả đến Ủy ban nhân dân phường K để làn thủ tục đăng ký khai sinh cho con. Quá trình tiếp nhận, UBND phường K phát hiện Giấy chứng sinh do M cung cấp là giả nên đã lập biên bản, Hoàng Thị M thừa nhận giấy chứng sinh do mình cung cấp là giả. UBND phường K đã lập biên bản vi phạm hành chính đối với Hoàng Thị M và chuyển hồ sơ đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L để giải quyết theo thẩm quyền.

Tại kết luận giám định số 52/KL-KTHS ngày 07/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh L đã kết luận: 1.Chữ ký mang tên Vũ Anh D dưới mục “thủ trưởng cơ sở y tế” trên tài liệu cần giám định với chữ ký của ông Vũ Anh D trên tài liệu mẫu so sánh không do cùng một người ký ra. 2.Chữ ký mang tên HS Mộc Thị H dưới mục “Người đỡ đẻ”; “Người ghi phiếu” trên tài liệu cần giám định với chữ ký của bà Mộc Thị H trên tài liệu mẫu so sánh không do cùng một người ký ra. 3.Hình dấu tròn có nội dung “BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH PHỐ LÀO CAI” trên tài liệu cần giám định không được đóng trực tiếp. Hình dấu này được làm giả bằng phương pháp in phun màu.

Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Thị M khai nhận: Do nhận thức chưa đúng về pháp luật nên bị cáo đã sử dụng tài liệu là giấy chứng sinh giả của Bệnh viện đa khoa thành phố L để đăng ký khai sinh cho con thì bị phát hiện. Bị cáo đã nhận được kết luận giám định và không có ý kiến gì.

Cáo trạng số 03/CT-VKS ngày 24/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai đã truy tố Hoàng Thị M về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai giữ nguyên Cáo trạng truy tố bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Thị M phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Hoàng Thị M từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng; xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng của bị cáo, bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là sai trái, xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất là phạt tiền.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi của các cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó về trình tự, thủ tục điều tra, truy tố là hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua kết quả tranh luận tại phiên tòa, từ đó có đủ cơ sở xác định:

Bị cáo Hoàng Thị M là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên bị cáo cũng hiểu việc sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức là hành vi trái pháp luật. Nhưng ngày 13/10/2023, bị cáo đã sử dụng tài liệu là Giấy chứng sinh giả để làm thủ tục đăng ký khai sinh cho con thì bị phát hiện. Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi đã thực hiện. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, nội dung bản Cáo trạng, lời khai người chứng kiến, kết luận giám định cũng như các chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, theo quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo có ông ngoại là Dương Văn M1 được tặng thưởng Huy chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhì; do đó bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo Hoàng Thị M là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động bình thường của cơ quan tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính Nhà nước. Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; Hội đồng xét xử xét thấy xử phạt bị cáo hình phạt tiền cũng đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân thủ pháp luật, đồng thời giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật của quần chúng nhân dân, góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm. Trong thời gian chuẩn bị xét xử, bị cáo tự nguyện nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lào Cai số tiền 30.200.000 đồng (Ba mươi triệu hai trăm nghìn đồng), thể hiện bị cáo có tài sản, đủ điều kiện để đảm bảo thi hành án đối với hình phạt tiền.

Về vật chứng:

Quá trình điều tra cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 giấy chứng sinh giả số 18, quyển số 01 do Bệnh viện đa khoa thành phố L cấp ngày 08/10/2023; Xét thấy đây là vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Các vấn đề khác:

Đối với người bán giấy chứng sinh giả cho Hoàng Thị M, và người giao giấy chứng sinh giả cho Hoàng Thị M, bị cáo không có thông tin liên lạc, không biết tên, tuổi, địa chỉ nên cơ quan điều tra không có cơ sở xác minh làm rõ nên không đề cập xử lý.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Căn cứ vào khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự:

1.1.Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị M phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”;

1.2.Áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo Hoàng Thị M: Xử phạt bị cáo Hoàng Thị M số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng). Xác nhận bị cáo Hoàng Thị M đã nộp 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 000461 ngày 07/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lào Cai.

2. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

-Tịch thu tiêu huỷ: 01 giấy chứng sinh số 18, quyển số 01 do Bệnh viện đa khoa thành phố L cấp ngày 08/10/2023 (Giấy chứng sinh giả do Hoàng Thị M đặt mua).

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/01/2024).

3.Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Bị cáo Hoàng Thị M phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm. Xác nhận bị cáo Hoàng Thị M đã nộp 200.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000461 ngày 07/3/2024.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ