- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Cao Quốc V và bị cáo Võ Văn D1.
- Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2024/HS-PT Ngày 06-3-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lê Phương
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hồng Thái, ông Trần Phước Hiệu
- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Thị Yến, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà
Nguyễn Thị Hoàn - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 03 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét
xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 15/2024/TLPT-HS ngày
05 tháng 02 năm 2024 đối với các bị cáo Cao Quốc V và bị cáo Võ Tấn D do có
kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 173/2023/HS-ST ngày
27 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam.
- Các bị cáo có kháng cáo:
1. Cao Quốc V (tên gọi khác: Cu L), sinh năm 1984, tại Bình Thuận;
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: khu phố L, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình
Thuận; Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 02/12; quốc tịch: Việt Nam;
dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; Giới tính: Nam; con ông Cao Văn T (đã chết) và
bà Phan Thị Minh H - sinh năm: 1957; vợ, con: chưa có. Gia đình có 02 anh em ruột,
bị cáo là con lớn nhất trong gia đình, nhỏ nhất sinh năm 1987.
- Tiền án:
+ Ngày 14/8/2001, bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình
Thuận xử phạt 09 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" tại Bản án số 20/2001/HSST.
+ Ngày 26/12/2002 Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xử phạt 02 năm tù về tội
"Trộm cắp tài sản" tại Bản án số 113/2002/HSPT. Ngày 05/6/2004 chấp hành xong
hình phạt.
+ Ngày 02/02/2005, Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận
xử phạt 04 năm tù về tội "Trộm cắp tài sản" tại Bản án số 11/2005/HSST.
+ Ngày 14/12/2009, bị Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng
Tàu xử phạt 24 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" tại Bản án số 66/2009/HSST; Ngày
20/01/2010, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xử phạt 01 năm tù
về tội "Trộm cắp tài sản" tại Bản án số 04/2010/HSST; Ngày 19/3/2010, bị Tòa án
nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận xử phạt 05 năm tù về tội "Trộm cắp tài
sản" tại Bản án số 36/2010/HSST;
+ Ngày 30/6/2010, Chánh án Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận
ra Quyết định tổng hợp hình phạt của Bản án số 36/2010/HSST của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận với Bản án số 66/2009/HSST của Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu và Bản án số 04/2010/HSST của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre buộc bị cáo Cao Quốc V phải chấp hành phạt chung là 07 năm 06 tháng 14 ngày tù. Ngày 04/8/2017, Cao Quốc V chấp hành xong hình phạt tù.
+ Ngày 18/10/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình
Thuận xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" tại bản án số 53/2019/HSST. Ngày 13/12/2022 chấp hành xong hình phạt tù.
- Tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng C đi khỏi nơi cư trú từ ngày 27/12/2023 .
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Võ Tấn D, sinh năm 1998, tại Bình Thuận;
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: thôn H, T, huyện H, tỉnh Bình Thuận; Nghề
nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 08/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Giới tính: Nam; con ông Võ Tấn Q (đã chết) và bà Mai Thị H1 - sinh năm: 1976; vợ, con: chưa có. Gia đình có 03 anh chị em ruột, lớn nhất sinh năm 1998 (anh em sinh đôi với bị cáo), nhỏ nhất sinh năm 2001, bị cáo là con thứ hai trong gia đình.
- Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 27/10/2023.
Các bị cáo đều có mặt tại phiên tòa.
+ Bị hại: Anh Hoàng Văn H2 - sinh năm 1991; Địa chỉ: thôn H, xã T, huyện H,
tỉnh Bình Thuận (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
Để có tiền tiêu xài cá nhân, vào tối ngày 13/3/2023, Cao Quốc V và Võ Tấn D
rủ nhau đi trộm cắp tài sản. Dự điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 86B4-183.60 chở V cầm theo một cây rựa vào khu vực rẫy thanh long thuộc thôn L, xã T, huyện H và giấu xe ở ven đường, sau đó cả hai đi bộ tìm dây điện để trộm cắp. Khi đến khu vực chòi rẫy của Hoàng Văn H2 (sinh năm 1991, trú thôn H, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận) thì D và V chia nhau đi tháo dây điện trên đầu trụ thanh long, cả hai lấy được tổng cộng 18 (mười tám) cuộn dây điện với tổng chiều dài 800m (tám trăm mét), trong đó có 12 (mười hai) cuộn (chiều dài 600m) đã được V và D bỏ vào 02 (hai) bao và mang ra cất giấu tại vị trí xe mô tô biển kiểm soát 86B4-183.60, còn 06 (sáu) cuộn (chiều dài 200m) để tại vườn thanh long của ông H2. Sau đó, cả hai tiếp tục chia nhau để tìm tài sản trộm cắp. Lúc này, Hoàng Văn L1 (sinh năm 1986, trú thôn H, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận) đang canh giữ chòi rẫy thì nhìn thấy V và nghi ngờ V trộm cắp tài sản nên gọi điện báo cho Hoàng Văn H2, Hải báo cho Hoàng Văn T1 (sinh năm 1984, trú cùng thôn) vào kiểm tra thì phát hiện xe mô tô biển kiểm soát 86B4-183.60 và hai bao đựng dây điện trộm cắp của V và D nên đã mai phục gần đó để canh bắt. Sau đó, T1 và H2 phát hiện Cao Quốc V đi đến vị trí xe mô tô biển kiểm soát 86B4-183.60 nên truy hô và cùng người dân bắt được V trói lại tại gốc cây ven đường.
Quá trình truy bắt, V bị một số người dân chưa xác định được danh tính đánh gây
thương tích. Đến khoảng 04 giờ 30 phút ngày 14/3/2023, Công an xã T đến hiện trường
ghi nhận sự việc và đưa Cao Quốc V đi cấp cứu. Còn D sau khi chia ra đi tìm tài sản
trộm cắp thì bị lạc đường, sau đó D đi về nhà. Đến ngày 24/7/2023, D được Công an
huyện H mời lên làm việc và khai nhận hành vi trộm cắp của bản thân.
Về dân sự: Bị hại Hoàng Văn H2 đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bồi
thường gì thêm.
Đối với các đối tượng đã có hành vi "Cố ý gây thương tích" đối với Cao Quốc
V, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đang xác minh, làm rõ, xử lý sau.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 173/2023/HS-ST ngày 27/12/2023 của Tòa án
nhân dân huyện Hàm Thuận Nam đã quyết định:
1. Tuyên bố: Các bị cáo Cao Quốc V và Võ Tấn D phạm tội “Trộm cắp tài
sản”.
- Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ
luật hình sự năm 2015.
+ Xử phạt bị cáo Cao Quốc V 04 (B) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù
tính từ ngày bắt đi chấp hành án.
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật
hình sự năm 2015.
+ Xử phạt bị cáo Võ Tấn D 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt
tù tính từ ngày bắt đi chấp hành án.
2. Biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2
Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà
nước 01 xe mô tô biển kiểm soát 86B4-183.60. Tịch thu tiêu hủy 01 (một) cây rựa
lưỡi sắt, cán bằng tre dài 60cm. Hiện trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật
chứng vào ngày 06/12/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H và Chi
cục THA dân sự huyện H.
Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo bản án theo luật
định.
Ngày 06/01/2024, bị cáo Võ Văn D1 có đơn kháng cáo xin hưởng án treo; Ngày
10/01/2024, bị cáo Cao Quốc V có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo vẫn giữ nguyên đơn kháng cáo: bị cáo Cao
Quốc V kháng cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo Võ Tấn D kháng
cáo xin được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận phát biểu quan điểm về vệc
giải quyết vụ án: Bản án sơ thẩm xét xử các bị cáo Cao Quốc V và bị cáo Võ Tấn D
về tội “Trộm cắp tài sản” là có căn cứ. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết
giảm nhẹ, tăng nặng và xử phạt mức án bị cáo Cao Quốc V 04 (Bốn) năm tù; Xử phạt
bị cáo Võ Tấn D 09 (Chín) tháng tù là phù hợp. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử cấp
phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ
thẩm .
Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo đều hối hận về hành vi phạm tội. Bị cáo
Cao Quốc V xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo Võ Tấn D xin Hội đồng
xét xử được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị cáo làm trong hạn luật định,
được Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giải quyết theo thủ tục xét xử phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại vắng mặt. Các bị cáo xác định không cần hoãn
phiên tòa để có mặt bị hại, đề nghị HĐXX tiếp tục xét xử vụ án. Xét thấy, bị hại đã được tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt, việc vắng mặt bị hại không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên HĐXX không phải hoãn phiên tòa mà tiếp tục xét xử vụ án.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo thừa nhận Tòa án cấp sơ thẩm xét xử
các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng người, đúng tội, không oan sai. Bị cáo Cao Quốc V và bị cáo Võ Tấn D là những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ nhận thức được quyền sở hữu tài sản của cá nhân, tổ chức được pháp luật nhà nước bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác sẽ bị trừng trị. Hành vi của các bị cáo trộm cắp 18 (mười tám) cuộn dây điện với tổng chiều dài 800m (tám trăm mét), trị giá 3.360.000 đồng, của ông Hoàng Văn H2 đã đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử về tội ““Trộm cắp tài sản” được quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của các bị cáo, HĐXX thấy rằng: Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh
giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo Cao Quốc V 04 năm tù theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự và xử phạt bị cáo Võ Tấn D 09 tháng tù tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là thỏa đáng, không nặng. Mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện. Đồng thời, tất cả các tình tiết giảm nhẹ đã được cấp sơ thẩm áp dụng cho các bị cáo đúng quy định.
[4] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Cao Quốc V không cung cấp được chứng
cứ, tình tiết gì mới so với các tình tiết giảm nhẹ mà cấp sơ thẩm đã áp dụng. Đối với bị cáo Võ Tấn D cung cấp giấy xin giảm nhẹ hình phạt của bị hại để được hưởng án treo. Tuy nhiên tình tiết mới này không đủ cơ sở để HĐXX cấp phúc thẩm để cho bị cáo được hưởng án treo. Mặt khác, tình hình tội phạm trộm cắp dây điện chong đèn cho vườn cây thanh long diễn ra rất phức tạp tại địa bàn huyện H, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất thanh long xuất khẩu, gây nhiều bức xúc trong nhân dân. Vì vậy, để đảm bảo tính răn đe và phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo V, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo D xin được hưởng án treo, mà giữ nguyên mức án Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên.
[5] Tại phiên tòa ý kiến của Kiểm sát viên phù hợp với quan điểm của HĐXX
nên chấp nhận.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị
kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[7] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận, các bị cáo phải chịu án phí
hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ : Điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Cao Quốc V và bị cáo Võ Văn D1.
Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 173/2023/HS-ST ngày 27/12/2023 của Tòa án
nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận
2. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ
- Tuyên bố: bị cáo Cao Quốc V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Cao Quốc V 04 (B) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù
tính từ ngày đi chấp hành án.
3. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật
hình sự .
- Tuyên bố: bị cáo Võ Tấn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Võ Tấn D 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù
tính từ ngày đi chấp hành án.
4. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Khoản
2 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và
lệ phí Tòa án: các bị cáo Cao Quốc V, Võ Tấn D, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng
án phí hình sự sơ thẩm
5. Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố
tụng hình sự, điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: các bị cáo Cao Quốc V, Võ Tấn D, mỗi
bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
6. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không
bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (Ngày
06/3/2024).
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Thuận; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Thuận; - TAND, VKSND, CA,THADS huyện HTN ; - Phòng PV06 - Công an tỉnh Bình Thuận; - Bị cáo; Những người tham gia tố tụng; - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú; - Cổng TTĐT-TANDTC; - Lưu: Hồ sơ, Tòa hình sự, KTNV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Lê Phương (ĐãKý) |