vanban.org

Bản án 20/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Văn Thị Ngọc H được ly hôn anh Hoàng Văn C. Về con chung: Giao các cháu Hoàng Văn Minh T, sinh ngày 11/4/2015, Hoàng Kiều N, sinh ngày 10/4/2016 và Hoàng Minh K, sinh ngày 19/5/2020 cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh C không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Văn Thị Ngọc H- Hoàng Văn C"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 20 - 9 - 2024
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Xuân Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Hoài Như;

2. Ông Trần Đình Khương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Xuân Thúy Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Khánh Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 136/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 7 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 18/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Văn Thị Ngọc H, sinh năm 1998, địa chỉ: Khu phố C, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, có mặt;

2. Bị đơn: Anh Hoàng Văn C, sinh năm 1991, địa chỉ: Khu phố A, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 01/7/2024, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Văn Thị Ngọc H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Văn Thị Ngọc H và anh Hoàng Văn C đăng ký kết hôn vào ngày 28/7/2016 tại U, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị trên cơ sở tự nguyện theo đúng quy định của pháp luật. Sau ngày cưới, anh chị về sống chung tại nhà của bố mẹ chồng. Chị H, anh C có một khoảng thời gian chung sống thuận hoà, yêu

Trang 1 thương, tôn trọng lẫn nhau. Tuy nhiên, về sau giữa hai vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Anh C ham chơi, không chí thú làm ăn, quan tâm kinh tế gia đình. Mặc dù, chị đã khuyên ngăn, cố gắng trao đổi nhiều lần nhiều lần nhưng anh C vẫn không thay đổi. Gia đình nhà chồng đã giúp đỡ, bảo ban nhưng vẫn không thể khắc phục được. Mâu thuẫn càng ngày càng lớn, tình cảm không còn. Không thể tiếp tục chung sống nên chị H một mình rời khỏi nhà chồng. Hiện chị H anh C đã sống ly thân. Chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị H được ly hôn anh Hoàng Văn C.

Về con chung: Chị Văn Thị Ngọc H và anh Hoàng Văn C có 03 con chung là: Hoàng Văn Minh T, sinh ngày 11/4/2015, Hoàng Kiều N, sinh ngày 10/4/2016 và Hoàng Minh K, sinh ngày 19/5/2020. Khi ly hôn, chị H có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con là Minh K và giao hai con là Minh T và Kiều N cho anh C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con cho ai.

Tại phiên làm việc ngày 12/9/2024 và tại phiên toà, chị Văn Thị Ngọc H trình bày bổ sung: Chị H rất thương yêu các con, cũng rất muốn được nuôi cả 03 con. Nhưng khi buộc phải rời khỏi nhà chồng Chị không thể mang theo các con đi cùng. Việc chị đề nghị giao anh C nuôi 02 con lớn: Hoàng Văn Minh T và Hoàng Kiều N là để giảm bớt căng thẳng giữa chị và anh C, cũng như tôn trọng sự mong muốn của ông bà nội các cháu. Tuy nhiên, anh C không đến Toà án, không có ý kiến gì về việc có đồng ý nuôi các con hay không. Do đó, chị H đề nghị Toà án giải quyết: Trường hợp anh C không đến Toà án và không đồng ý nhận nuôi các con thì chị H xin được nuôi cả 03 con chung: Hoàng Văn M T và Hoàng Kiều N và Hoàng Minh K để đảm bảo quyền lợi của các con. Chị H cũng không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con. Trường hợp anh C thấy cần có nghĩa vụ với các con thì cấp dưỡng tuỳ vào khả năng của anh C.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Hoàng Văn C đã nhận được thông báo về việc thụ lý vụ án nhưng không trình bày ý kiến về quan điểm yêu cầu Toà án giải quyết; Toà án đã triệu tập hợp lệ 03 phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải nhưng anh C đều không tham gia; không tham gia phiên toà. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà phát biểu quan điểm: Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà thụ lý vụ án theo đơn khởi kiện của chị Văn Thị Ngọc H là đúng thẩm quyền. Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán đã thực hiện đảm bảo về trình tự thủ tục tố tụng theo quy định; tại phiên Tòa Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng trình tự; người tham gia tố tụng nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật; bị đơn không chấp hành đúng các quy

Trang 2 định của pháp luật. Anh Hoàng Văn C đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên đề nghị Tòa án căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 56; Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Cho chị Văn Thị Ngọc H được ly hôn anh Hoàng Văn C.

Về con chung: Giao cháu Minh K cho chị H trực tiếp, chăm sóc nuôi dưỡng; giao cháu Minh T và Kiều N cho anh C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Không ai phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con; Tài sản chung: Không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Chị Văn Thị Ngọc H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn anh Hoàng Văn C là quan hệ tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà theo quy định tại Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã triệu tập tham gia phiên toà hợp lệ lần thứ hai cho anh Hoàng Văn C, nhưng anh C vắng mặt không có lý do nên xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử thấy:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Văn Thị Ngọc H và anh Hoàng Văn C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân Phường U, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 22 ngày 28/7/2016. Đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống của anh chị đã phát sinh nhiều mâu thuẫn về kinh tế, vợ chồng không cùng nhau gánh vác chia sẻ. Anh C bỏ mặc đời sống hôn nhân, không cùng chị H tìm hướng khắc phục cho những mâu thuẫn phát sinh giữa 02 vợ chồng, dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng mâu thuẫn hơn. Chị H anh C đã không còn chung sống với nhau khoảng 03, 04 tháng nay. Anh C dù biết chị H đề nghị Toà án giải quyết ly hôn nhưng không có ý kiến, không đưa ra hướng khắc phục mâu thuẫn hôn nhân cũng như không tham gia các buổi hòa giải theo triệu tập của Tòa án, thể hiện sự bỏ mặc cuộc hôn nhân của mình, không mong muốn níu kéo, hàn gắn.

Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương từ hai phía nguyên đơn, bị đơn và làm việc với bố mẹ của anh C, kết quả cho thấy: Chị Văn Thị Ngọc H và anh

Trang 3 Hoàng Văn C sau khi đăng ký kết hôn về chung sống tại nhà bố mẹ chồng là ông Hoàng Văn G và bà Đào Thị L tại Khu phố A, Phường D, thành phố Đ. Từ khi mâu thuẫn xảy ra cho đến nay (khoảng 03, 04 tháng), chị H về nhà ngoại tại Khu phố C, Phường D sinh sống. Anh Hoàng Văn C cùng 03 con chung là Hoàng Văn Minh T, Hoàng Kiều N, Hoàng Minh K vẫn tiếp tục sinh sống tại nhà bố mẹ anh C. Cháu Minh T và Kiều N hiện đang học tại Trường tiểu học P, cháu Minh K đang học tại Trường mầm non. Địa phương không nắm được nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng. Chị H, anh C không tham gia tổ chức chính trị - xã hội nào ở khu phố, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy đinh của pháp luật. Bố mẹ anh C cũng mong muốn Toà án giao các con cho anh C nuôi dưỡng nhưng không xác định được nguyện vọng, mong muốn của anh C về cuộc hôn nhân giữa anh C, chị H, trách nhiệm đối với các con chung.

Xét thấy, hôn nhân là sự tự nguyện, yêu thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau. Nhưng, tình trạng hôn nhân giữa chị Văn Thị Ngọc H và anh Hoàng Văn C đã xảy ra mâu thuẫn, sống ly thân. Cả hai không đưa ra được định hướng khắc phục mâu thuẫn, hàn gắn gia đình mà ngược lại, anh C còn thể hiện sự bỏ mặc. Chị H lựa chọn giải pháp rời khỏi nhà chồng một mình, để lại 03 còn còn nhỏ cho anh C chăm sóc. Điều đó cho thấy mâu thuẫn đã trầm trọng, không thể khắc phục, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu, xử cho chị Văn Thị Ngọc H được ly hôn anh Hoàng Văn C.

- Về con chung: Chị Văn Thị Ngọc H và anh Hoàng Văn C có 03 con chung là: Hoàng Văn Minh T, sinh ngày 11/4/2015, Hoàng Kiều N, sinh ngày 10/4/2016 và Hoàng Minh K, sinh ngày 19/5/2020. Tại phiên toà, chị H trình bày: Do anh C không thể hiện nguyện vọng mong muốn nuôi con, nên chị xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả 03 con chung, không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, quá trình giải quyết vụ án Toà án đã tổ chức 03 phiên hoà giải, nhưng anh C đều không tham gia, không trình bày quan điểm của mình về việc nuôi con, không tham gia tố tụng. Thông qua chính quyền địa phương, Toà án đã trực tiếp đến nhà anh C làm việc với ông Hoàng Văn G, bà Đào Thị L là bố mẹ của anh C, nhờ bố mẹ anh C tác động để anh C thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng, trách nhiệm của người chồng, người cha đối với cuộc hôn nhân của anh C, chị H và nghĩa vụ chăm sóc nuôi dưỡng các con khi ly hôn. Nhưng, anh C không hợp tác, không thể hiện ý chí của mình về quyền và nghĩa vụ của người cha đối với các con khi ly hôn, không tham gia tố tụng tại phiên toà. Do đó, Toà án không có căn cứ để xác định về quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và là người đại diện hợp pháp của các con trong quá trình nuôi dưỡng khi các con chưa

Trang 4 thành niên từ phía anh C, cũng như khả năng đảm bảo quyền và lợi ích về mọi mặt của các con khi giao con cho anh C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Tại phiên toà, chị H có nguyện vọng được nuôi dưỡng cả 03 con. Hội đồng xét xử thấy rằng, việc xác định trách nhiệm của bố mẹ với con chưa thành niên là hết sức quan trọng, nên cần phải giao cháu cả 03 cháu cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chưa thành niên và sự phát triển bình thường, không làm ảnh hưởng đến tâm sinh lý của trẻ nhỏ.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị H không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 56; 81; 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình, xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Văn Thị Ngọc H được ly hôn anh Hoàng Văn C.

- Về con chung: Giao các cháu Hoàng Văn Minh T, sinh ngày 11/4/2015, Hoàng Kiều N, sinh ngày 10/4/2016 và Hoàng Minh K, sinh ngày 19/5/2020 cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh C không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Nếu lợi dụng việc thăm nom con mà gây cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.

- Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết.

- Về án phí: Căn cứ vào khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/ 2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử: Buộc chị Văn Thị Ngọc H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0000382

Trang 5 ngày 02/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà, chị H đã nộp đủ án phí.

- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được nhận bản án hoặc bản án được niêm yết./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ