- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "TON MY L - TANG HY H"
- Tòa quyết gì? Anh H được quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2024/HNGĐ-ST Ngày 28-02-2024 V/v: Ly hôn và tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huệ. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Quang Nghĩa. Ông Lê Tịnh Thới.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Văn Thiêm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phƣơng Dung - Kiểm sát viên. Ngày 30/01/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 687/2023/TLST-HNGĐ ngày 16/10/2023 về ly hôn và tranh chấp nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17/01/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2024/QĐST –HNGĐ ngày 30/01/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Tôn Mỹ L, sinh năm 1997(Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp D, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Anh Tằng Hỷ H, sinh năm: 1993 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 02/10/2023, trong quá trình làm việc, nguyên đơn chị Tôn Mỹ L trình bày: Vào năm 2018, chị và anh T Hỷ Hếnh tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện X. Sau khi kết hôn, anh chị sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng hay cãi nhau. Anh chị không còn sống chung với nhau từ cuối năm 2020 cho đến nay. Nay chị không còn tình cảm với anh H, do đó yêu cầu được ly hôn. Về con chung: Anh chị có 01 con chung tên Tằng Gia H1, sinh ngày 16/11/2019. Hiện nay cháu H1 đang sống cùng với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu nuôi con chung, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết. Về nợ chung: Không có. * Trong quá trình làm việc bị đơn anh Tằng Hỷ H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, vì vậy không có lời trình bày. * Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc: Từ khi thụ lý vụ án đến nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân theo đúng quy định pháp luật về tố tụng. Nguyên đơn chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng, bị đơn không chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L, chị L được ly hôn với anh H; Về con chung: Giao con chung cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động; Chị L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết; Tài sản chung và nợ chung: Không giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tư cách tham gia tố tụng: Chị Tôn Mỹ L có đơn khởi kiện ly hôn với anh Tằng Hỷ H, do đó xác định chị L là nguyên đơn, anh H là bị đơn. [2] Về thủ tục tố tụng: Chị Tôn Mỹ L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Tằng Hỷ H đã được triệu tập tham gia phiên tòa đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, tiến hành xét xử vắng mặt chị L, anh H là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. [3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Tôn Mỹ L và anh T Hỷ Hếnh tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau năm 2018 tại Ủy ban nhân dân xã X, do đó quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”. 2 Xét yêu cầu của nguyên đơn nhận thấy: Chị L cho rằng, nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng hay cãi nhau. Cuộc sống chung vợ chồng anh chị không hạnh phúc. Anh chị không còn sống chung với nhau từ cuối năm 2020 cho đến nay. Anh H đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần để làm việc, anh H biết việc ly hôn nhưng vẫn vắng mặt không lý do, cho thấy anh H không có thiện chí trong việc hòa giải đoàn tụ vợ chồng. Hơn nữa, theo kết quả xác minh tình trạng hôn nhân của anh chị tại địa phương cho thấy hiện nay anh H vẫn cư trú tại địa phương, tuy nhiên anh chị không còn sống chung với nhau. Như vậy, chứng tỏ trong cuộc sống hôn nhân giữa chị L và anh H đã xảy ra mâu thuẫn. Hiện nay, anh chị bỏ mặc không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, không còn thực hiện quyền, nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định pháp luật, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T1 Mỹ Lệ là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình. [5] Về con chung: Chị L yêu cầu nuôi con chung khi ly hôn, anh H vắng mặt không có lời khai, nên không thể hiện nguyện vọng về con chung. Xét thấy, hiện nay con chung đang do chị L trực tiếp nuôi dưỡng, hơn nữa cháu H1 còn nhỏ cần sự chăm sóc của mẹ, do đó tiếp tục giao con chung cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con nên không xét, anh H vắng mặt nên không có lời trình bày, nên không giải quyết. [6] Về tài sản chung: Chị L trình bày không có, anh H không có lời khai, nên không xem xét giải quyết. [7] Về nợ chung: Chị L trình bày không có, anh H không có lời khai, nên không giải quyết. [8] Về án phí: Chị Tôn Mỹ L phải nộp 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận . Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng các Điều 28, 35, 39, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về Án phí và Lệ phí Tòa án. Tuyên xử: 1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Tôn Mỹ L ly hôn anh Tằng Hỷ H. 2. Về con chung: Giao con chung là cháu Tằng Gia H1, sinh ngày 16/11/2019 cho chị T1 Mỹ Lệ trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. 3 Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.
Anh H được quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con. 3. Về tài sản chung và nợ chung: Không giải quyết. 4. Về án phí: Chị Tôn Mỹ L phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai H2 số 0008846 ngày 02/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc được chuyển thành án phí. Chị Tôn Mỹ L, anh Tằng Hỷ H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - VKSND H.Xuân Lộc; - CCTHADS H.Xuân Lộc; - Các đương sự; - UBND xã nơi kết hôn; - Lưu án văn, hồ sơ. 4 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Huệ |