- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn M về việc xin ly hôn với bà Lâm Thị D. Cho ông Trần Văn M được ly hôn với bà Lâm Thị D.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2024/HNGĐ-ST Ngày 19-3-2024 V/v tranh chấp “Xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Đinh Thị Thùy Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Võ Văn Chanh.
Bà Võ Kiều Phương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Tú Hương là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau.
Ngày 19 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 14/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 02 năm 2024 về tranh chấp “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Trần Văn M, sinh năn 1964 (xin vắng).
Nơi cư trú: Ấp T, xã L, huyện N, tỉnh C ..
Bị đơn: Bà Lâm Thị D, sinh năn 1968 (xin vắng).
Nơi cư trú: Ấp T, xã L, huyện N, tỉnh C ..
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn ông Trần Văn M trình bày:
- Về hôn nhân: Ông M và bà D có thời gian tìm hiểu và kết hôn trên tinh thần tự nguyện vào năm 1984, có tổ chức đám cưới gã theo phong tục của địa phương nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật.
Lý do ly hôn: Quá trình chung sống lúc đầu vợ chồng hạnh phúc. Đến năm 2005 giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, mẫu thuẫn kéo dài, đời sống hôn nhân không hạnh phúc. Vợ chồng cũng sống ly thân từ năm 2005 đến nay, bà D rời nhà đi cho đến nay. Xét thấy, tình cảm vợ chồng không còn nên ông M yêu cầu ly hôn với bà D.
- Về con chung: Có 04 người con tên Trần Chí Nguyện (Nam), sinh năm 1986; Trần Thị Hiếu (Nữ), sinh ngày 01/01/1988; Trần Thanh Thảo (Nữ), sinh ngày 24/8/1988 và Trần Thị Linh (Nữ), sinh ngày 16/7/1999. Các con đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về công nợ: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn bà Lâm Thị D trình bày:
Bà D và ông M có thời gian tìm hiểu và kết hôn trên tinh thần tự nguyện vào năm 1984, có tổ chức đám cưới gã theo phong tục của địa phương nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật.
Quá trình chung sống, giữa ông bà xảy ra nhiều mâu thuẫn không thể giải quyết, dẫn đến năm 2005 ông bà sống ly thân cho đến nay. Do không còn tình cảm, ông M yêu cầu ly hôn thì bà D đồng ý ly hôn.
- Về con chung: Có 04 người con tên Trần Chí Nguyện (Nam), sinh năm 1986; Trần Thị Hiếu (Nữ), sinh ngày 01/01/1988; Trần Thanh Thảo (Nữ), sinh ngày 24/8/1988 và Trần Thị Linh (Nữ), sinh ngày 16/7/1999. Các con đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về công nợ: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Về thủ tục tố tụng
Ông Trần Văn M xin ly hôn với bà Lâm Thị D. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự; do bị đơn cư trú tại ấp Trại Lưới B, xã Lâm Hải, huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau nên căn cứ Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau.
Ông M và bà D có đơn xin vắng mặt nên căn cứ điểm a khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt hai đương sự là có căn cứ.
. Về nội dung vụ án
- Về hôn nhân: Ông M và bà D có thời gian tìm hiểu và chung sống vào năm 1984, hôn nhân chỉ tổ chức đám cưới gã theo phong tục tập quán địa phương mà không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống, lúc đầu hôn nhân hạnh phúc, đến năm 2005 giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, ông bà sống ly thân tới nay mà không thể hàn gắn hôn nhân. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên ông M yêu cầu ly hôn với bà D, bà D đồng ý ly hôn.
Xét, Ông bà chung sống với nhau như vợ chồng trước năm 1987, người con chung lớn nhất sinh năm 1986 nên hôn nhân được điều chỉnh bởi Luật Hôn nhân và gia đình 2014, Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 9/6/2000 về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình và Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT TANDTC - VKSNDTC – BTP ngày 03/01/2001 hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 9/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình. Ông bà chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn trước năm 1987 được giải quyết theo quy định tại điểm a, Mục 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 9/6/2000 về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình, cụ thể như sau: “Trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03 tháng 1 năm 1987, ngày Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích đăng ký kết hôn; trong trường hợp có yêu cầu ly hôn thì được Tòa án thụ lý giải quyết theo quy định về ly hôn của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000”.
Như vậy, hôn nhân của ông bà được công nhận là quan hệ hôn nhân thực tế. Do hai đương sự đều xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử không ghi nhận sự tự nguyện ly hôn mà chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông M cho ly hôn giữa ông M với bà D theo quy định tại Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
- Về nuôi con: Các con đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về chia tài sản chung các đương sự tự thỏa thuận, về công nợ không có và các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, căn cứ vào Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự“Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó”, do đương sự không đặt ra yêu cầu nên không xem xét là có cơ sở.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không giá ngạch: Ông M là người cao tuổi có đơn xin miễn án phí nên được miễn theo quy định.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn M về việc xin ly hôn với bà Lâm Thị D. Cho ông Trần Văn M được ly hôn với bà Lâm Thị D.
- Về nuôi con: Đã trưởng thành không đặt ra xem xét.
- Về chia tài sản chung:
- Về nợ thu, nợ trả: Không có, đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
- Về án phí: Nguyên đơn được miễn án phí.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự
- Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Tòa án tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện Năm Căn; - Chi cục THA DS huyện Năm Căn; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Thùy Linh |