- Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Vụ Mùa Thị D và Vàng A C"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Mùa Thị D và anh Vàng A C.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2024/HNGĐ - ST Ngày 19 - 12 - 2024 V/v: “Xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Ngọc Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lò Thị Minh, bà Hoàng Thị Hội.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Văn Yến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thanh Nga - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 30/2024/TLST-HNGĐ, ngày 13 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03/12/2024 giữa:
- Nguyên đơn: Chị Mùa Thị D, sinh năm 1989. Địa chỉ: Bản P, xã Đông Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La, có mặt.
- Bị đơn: Anh Vàng A C, sinh năm 1988. Địa chỉ: Bản P, xã Đông Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Hiện đang chấp hành án tại trại giam Yên Hạ - Cục C10 Bộ Công an, có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Mùa Thị D trình bày:
Chị và anh Vàng A C chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2006 nhưng không đăng ký kết hôn, chỉ tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán của địa phương. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2017 anh Vàng A C nghiện chất ma túy và vi phạm pháp luật phải đi chấp hành án 03 năm tù, sau khi chấp hành án xong trở về địa phương anh C không chăm lo cho gia đình vợ con mà thường xuyên hành hạ chị nhiều lần, đến năm 2021 anh Vàng A C tiếp tục vi phạm pháp luật bị xử phạt 04 năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý, hiện nay đang chấp hành án tại trại giam Yên Hạ - Cục C10 Bộ Công an. Nay chị thấy không thể chung sống được với anh Vàng A C do không còn tình cảm với nhau, chị đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Vàng A C.
- Về con chung: Trong quá trình chung sống chị và anh Vàng A C có 02 con chung là cháu Vàng A Bình, sinh ngày 17/3/2009 và cháu Vàng Thị Tơ, sinh ngày 18/6/2012. Nếu ly hôn chị có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc 02 cháu đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Chị không yêu cầu anh Vàng A C phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị Mùa Thị D cam đoan không có nợ chung.
Tại bản tự khai, biên bản hòa giải bị đơn anh Vàng A C trình bày:
Anh và chị Mùa Thị D chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2006 nhưng không đăng ký kết hôn chỉ tổ chức cưới xin theo phong tục tập quán của địa phương. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2017 do anh nghiện chất ma túy và vi phạm pháp luật phải đi chấp hành án 03 năm tù, đến năm 2020 sau khi chấp hành án xong trở về địa phương, đến năm 2021 anh tiếp tục vi phạm pháp luật và bị Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu xử phạt 04 năm tù, hiện nay đang chấp hành án tại trại giam Yên Hạ - Cục C10 Bộ Công an. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, anh nhất trí yêu cầu khởi kiện của chị Mùa Thị D .
- Về con chung: Trong thời gian chung sống anh và chị Mùa Thị D có 02 con là cháu Vàng A Bình, sinh ngày 17/3/2009, cháu Vàng Thị Tơ, sinh ngày 18/6/2012. Nếu ly hôn anh nhất trí giao 02 cháu cho chị Mùa Thị D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Anh chưa có điều kiện cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị D.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Anh Vàng A C cam đoan không có nợ chung.
Tại phiên hòa giải ngày 22/11/2024 tuy các đương sự đã thống nhất và thỏa thuận được với nhau toàn bộ nội dung vụ án, căn cứ kết quả xác minh tại UBND xã Đông Sang, huyện Mộc Châu: Quá trình sinh sống tại địa phương từ năm 2006 cho tới nay thì công dân Mùa Thị D với Vàng A C không đăng ký kết hôn tại UBND xã Đông Sang phù hợp với trình bày của các đương sự, do vậy vụ án được đưa ra xét xử công khai.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký: Từ khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án cho đến khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện các thủ tục tố tụng theo đúng quy định pháp luật.
- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử tham gia đúng thành phần như trong Quyết định đưa vụ án ra xét xử, các trình tự của phiên tòa sơ thẩm diễn ra theo đúng quy định của pháp luật.
- Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình. Tại phiên tòa bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, nên Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Viện kiểm sát đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 14; Điều 15; Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Mùa Thị D và anh Vàng A C.
Về con chung: Giao cháu Vàng A B, sinh ngày 17/3/2009, cháu Vàng Thị T, sinh ngày 18/6/2012 cho chị Mùa Thị D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Chấp nhận chị Mùa Thị D không yêu cầu anh Vàng A C phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu nên không đặt ra đề xem xét giải quyết.
Về án phí: Nguyên đơn chị Mùa Thị D thuộc hộ nghèo, đề nghị Toà án xem xét miễn án phí cho Mùa Thị D.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và đã được xem xét thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu tham gia phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Mùa Thị D yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bị đơn anh Vàng A C có địa chỉ tại Bản Pa Phách 2, xã Đông Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, theo quy định tại khoản 7 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về tố tụng:
Bị đơn anh Vàng A C vắng mặt tại phiên tòa do anh đang chấp hành án tại trại giam Yên Hạ - Cục C10 Bộ Công an, nhưng anh C có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân:
Chị Mùa Thị D và anh Vàng A C tự nguyện tìm hiểu, yêu thương, chung sống với nhau như vợ chồng, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới hỏi theo phong tục của địa phương vào năm 2006 từ đó cho đến nay, nhưng chưa đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Việc này được cả chị D và anh C thừa nhận. Như vậy chị D và anh C không tuân thủ theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân gia đình nên không có giá trị về mặt pháp lý. Căn cứ Điều 14, Điều 15 và khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân gia đình, không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Mùa Thị D và anh Vàng A C.
Về con chung: Chị Mùa Thị D và anh Vàng A C có 02 con chung là cháu Vàng A Bình, sinh ngày 17/3/2009, cháu Vàng Thị Tơ, sinh ngày 18/6/2012. Hai anh chị đều thỏa thuận: Giao cho chị Mùa Thị D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi và có khả năng lao động hoặc có sự thay đổi khác.
Tại bản tự khai ngày 13/11/2024 cháu Vàng A Bình, cháu Vàng Thị Tơ có ý kiến và nguyện vọng được ở với mẹ là chị Mùa Thị D.
Từ căn cứ nêu trên cần chấp nhận sự ý kiến của các bên và nguyện vọng của các con, giao cháu Vàng A Bình, cháu Vàng Thị Tơ cho chị Mùa Thị D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi và có khả năng lao động hoặc có sự thay đổi khác.
Về cấp dưỡng: Chấp nhận chị Mùa Thị D không yêu cầu anh Vàng A C phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Hai anh, chị kê khai không có, nên không đặt vấn đề giải quyết trong vụ án.
Về án phí: Chị Mùa Thị D là nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật. Xét thấy nguyên đơn thuộc hộ nghèo, quá trình thụ lý giải quyết và tại phiên tòa chị đề nghị được miễn toàn bộ án phí, căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án. Nên Hội đồng xét xử miễn án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn chị Mùa Thị D.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 14; Điều 15; Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Mùa Thị D và anh Vàng A C.
2. Về con chung:
Giao cháu Vàng A B, sinh ngày 17/3/2009 và cháu Vàng Thị T, sinh ngày 18/6/2012 cho chị Mùa Thị D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi các cháu đủ 18 tuổi, có khả năng lao động hoặc có sự thay đổi khác.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Vàng A C không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Mùa Thị D, do chị D chưa yêu cầu.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.
3. Về tài sản chung, vay nợ chung: Không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn chị Mùa Thị D.
5. Về quyền kháng cáo:
Chị Mùa Thị D được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Anh Vàng A C được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND huyện Mộc Châu; - Trại giam Yên Hạ - Cục C10 BCA. - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ, án văn. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Đào Ngọc Hà |