- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "Tranh chấp bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm giữa Bà Nguyễn Thị Đ, Anh Trần Minh X"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đ.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2024/DS-ST Ngày: 05-4-2024 “V/v Tranh chấp bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thạch Thị Tuyền.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Bé Ngoan.
2. Bà Trần Thị Kim Đồng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Nguyễn Mộng Cầm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thúy – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 179/2023/TLST-DS ngày 10 tháng 5 năm 2023, về việc “Tranh chấp bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2024/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1952. (có mặt)
Địa chỉ cư trú: ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Vĩnh Long
- Bị đơn: Anh Trần Minh X, sinh năm 1985
Địa chỉ cư trú: M7 Đinh Công T, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện hợp pháp: Anh Trương Văn H, sinh năm 1994, địa chỉ: ấp V, xã Vĩnh C, huyện T, tỉnh Long An là đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 14/6/2023). (có mặt)
Địa chỉ liên hệ: khu tái định cư Trung tâm văn hóa T, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Ngô Văn T, sinh năm 1968 (vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: ấp T, xã L, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
Chổ ở hiện nay: ấp P, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
2/ Anh Trần X , sinh năm 1994 (vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: M7 Đinh Công T, phường X , quận N, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 08 tháng 5 năm 2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ trình bày: Anh Trần Minh X là chủ sở hữu ao cá gần nhà của bà, ao cá thuộc phần đất thửa 191, tờ bản đồ số 22, diện tích 9346,2m2, tọa lạc ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Vĩnh Long. Năm 2023 anh X lập thủ tục tách thửa 191 thành nhiều thửa trong đó có thửa 202, tờ bản đồ số 22, diện tích 370,7m2 anh Trần X đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 05/01/2023. Quá trình canh tác thì anh X có thuê ông Ngô Văn T quản lý ao cá, vào ngày 24/01/2023 (nhằm mùng 03 tết âm lịch năm 2023) ao cá anh X bị bể nước tràn vào ảnh hưởng thiệt hại tài sản, bà có yêu cầu anh X phải gia cố bờ đê, cống đập Đ tránh bị thiệt hại nhưng bị đơn không khắc phục dẫn đến làm hư hỏng tài sản của bà. Do không gia cố bờ đê, cống ngập nên ngày 25/01/2023 (nhằm ngày 04 tết âm lịch năm 2023) nước tràn vào nhà của bà làm hư hỏng tài sản gồm 01 tủ quần áo, 01 giường ngủ, 01 ti vi, 01 tủ quần áo nhỏ, 01 tủ giầy dép, 01 bàn trang điểm, 01 bức tường chiều dài khoảng 10m, 01 mô tưa 01 ngựa hiệu cá sấu, 30 kg ốc bu. Tổng giá trị thiệt hại 24.500.000đồng. Sự việc xảy ra bà có báo chính quyền địa phương ở ấp lập biên bản, khi đó có mặt của ông T chứng kiến. Do ông T chỉ quản lý ao cá, quyền quyết định là của anh X nên bà xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với ông T, chỉ yêu cầu anh X bồi thường thiệt hại cho bà 12.000.000.000đ.
- Tại bản tự khai ngày 30/6/2023 và các lời khai khác trong quá trình giải quyết vụ án đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày: Anh X là chủ sở hữu hai ao cá ở ấp Phú Sung, xã Phú Thành, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long thuộc thửa 191, tờ bản đồ số 22, diện tích 9346,2m2, tọa lạc ấp Phú Sung, xã Phú Thành, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long. Năm 2023 anh X lập thủ tục tách thửa 191 thành nhiều thửa trong đó có thửa 202, tờ bản đồ số 22, diện tích 370,7m2 do anh Trần X Minh đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 05/01/2023. Anh X thuê ông T quản lý ao cá, anh X trả mỗi tháng 5.000.000đồng, không có hợp đồng chỉ thỏa T bằng lời nói. Anh X và ông T thỏa T: ông T chỉ là người trông coi tài sản và không có quyền quyết định đối với tài sản. Quyết định về tài sản là của anh X. Ngày 24/01/2023 (nhằm mùng 03 tết âm lịch năm 2023) do thủy triều dâng lên. Ngày 25/01/2023 (nhằm ngày 04 tết âm lịch năm 2023) nước tràn vào nhà người dân, ông T có đắp đê Đ chống nước tràn vào các hộ xung quanh nhưng nước vẫn tràn vào nhà của người dân nên ông T có báo cho anh X biết, anh X có nói ông T gia cố lại bờ đê và xem xét thiệt hại tài sản có hư hỏng gì không. Thiệt hại xảy ra không phải lỗi của anh X do sự cố thiên nhiên không ai mong muốn xảy ra nhưng anh X đồng ý hỗ trợ cho bà Đ một phần thiệt hại tài sản tổng cộng là 11.000.000đồng. Trường hợp nếu hòa giải không thành thì anh X yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
- Tại biên bản lấy lời khai ngày 28/6/2023 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông T trình bày: Ông có làm thuê trông coi 02 ao cá cho anh Trần Minh X ở ấp P, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long thuê trả lương hàng tháng, mỗi tháng 5.000.000đ (Năm triệu đồng), không có hợp đồng, trách nhiệm quản lý 02 ao cá, có vấn đề gì phát sinh báo cho chủ sở hữu quyết định. 02 ao cá do ông quản lý có 02 ống nước lớn (ống bọng) đường kính 1m có 02 vĩ sắt bịt đầu ống ngăn chặn nước nhưng chiều ngày 28 tết âm lịch năm 2023 bị trộm lấy 02 vĩ sắt bịt ống nước, ông có báo cho anh X về việc mất tài sản thì anh X có nói với ông mua vật liệu sửa chữa nhưng do tết không ai bán và không có thợ sửa chữa nên sáng mùng 3 tết âm lịch năm 2023 nhằm ngày 24/01/2023 nước tràn qua nhà người dân xung quanh, đến ngày 25/01/2023 (mùng 4 tết âm lịch năm 2023) nước tràn vào nhà người dân, đến buổi chiều khắc phục thì không còn ngập nước. Ông chỉ được giao việc là quản lý ao, còn quyền quyết định là do chủ sở hữu anh X, hợp đồng các bên cũng thỏa T có xảy ra vấn đề gì thì báo chủ sở hữu anh X quyết định.
Sự việc ngập nước xảy ra bà Đ có báo địa phương, xác định nước ngập có thiệt hại tài sản của bà Đ nhưng không biết cụ thể thiệt hại tài sản gì.
Nay theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì ông có ý kiến do ông là người làm thuê quyền sở hữu, quyết định, trách nhiệm ao cá là của anh X nên trách nhiệm bồi thường là của anh X, ông chỉ làm thuê không có quyền quyết định. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu liên đới tiền bồi thường ông không đồng ý.
- Tại bản tự khai ngày 13/3/2024 và các lời khai khác trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần X Minh trình bày: Anh có đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ao cá tại xã Phú Thành, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long, kể từ khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến nay toàn bộ phần diện tích đất trên do anh Trần Minh X quản lý và khai thác, việc bà Đ khởi kiện tranh chấp bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm thì anh Trần X Minh không có ý kiến.
Tại biên bản hòa giải ngày 30/6/2023, ngày 14/8/2023:
Vấn đề đương sự thống nhất:
- Nguyên đơn rút yêu cầu đối với ông T, không yêu cầu ông T cùng anh X liên đới bồi thường thiệt hại.
- Sự việc xảy ra vào mùng 3 tết âm lịch năm 2023 nhằm ngày 24/01/2023 nước tràn qua nhà bà Đ, đến ngày 25/01/2023 (mùng 4 tết âm lịch năm 2023) nước ngập tiếp tục tràn vào nhà bà Đ. Tài sản gây thiệt hại là 02 ao cá thuộc quyền sở hữu của anh X.
Vấn đề đương sự không thống nhất:
Nguyên đơn yêu cầu anh X bồi thường 12.000.000đồng.
Bị đơn chỉ đồng ý bồi thường 11.000.0000đồng, Trường hợp không đồng ý thì yêu cầu giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại biên bản định giá tài sản và theo kết quả định giá tài sản trong tố tụng dân sự xác định: Tài sản bị thiệt hại gồm: 01 tủ quần áo giá trị 1.200.000đồng; 01 tủ giày dép giá trị 650.000đồng; 01 bàn trang điểm giá trị 925.000đồng; 01 mô tưa giá trị: 612.500đồng; 01 giường ngủ giá trị 1.150.000đồng; 01 bàn ti vi giá trị: 750.000đồng; 01 tủ quần áo nhỏ giá trị: 400.000đồng; 01 hàng rào giá trị 3.071.407đồng. Tổng cộng: 8.758.500đồng; Đối với 30kg ốc bưu Hội đồng định giá tài sản không định giá được do không còn hiện trạng. Theo Ban quản lý chợ huyện Trà Ôn xác định giá ốc bưu hiện nay theo thị trường là 50.000đồng/kg.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn bà Đ yêu cầu bị đơn anh X có nghĩa vụ bồi thường 11.000.000đồng.
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn vẫn giữ nguyên ý kiến trình bày trên. Đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định pháp luật. Đối với phần bức tường kiên cố thời gian ngập ngắn không thể bị thiệt hại, đối với 30kg ốc bưu nước ngập không thể thiệt hại toàn bộ nên Hội đồng xét xử xem xét.
Vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu:
Về tố tụng: Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và trình tự, thủ tục xét xử của Hội đồng xét xử cũng như những người tham gia tố tụng chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Đề nghị áp dụng các điều 147, 157, 217, 244 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 6 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ.
Buộc anh Trần Minh X có nghĩa vụ bồi thường số tiền 10.258.500đồng cho bà Nguyễn Thị Đ.
Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đ về việc yêu cầu buộc ông Ngô Văn T cùng có nghĩa vụ liên đới với anh X bồi thường thiệt hại.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn án phí cho bà Đ.
Buộc anh Trần Minh X nộp 512.925đồng
Về chi phí tố tụng: Buộc anh Trần Minh X nộp 800.000đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, qua kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Bà Nguyễn Thị Đ khởi kiện yêu cầu anh Trần Minh X, địa chỉ cư trú: M7, phường X , quận N, thành phố Cần Thơ bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm, thiệt hại xảy ra tại ấp P, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long. Do đó, đây là tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nên theo quy định tại khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, điểm d khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.
Về người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ngô Văn T và anh Trần X có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Về nội dung:
Nguyên đơn bà Đ yêu cầu anh X bồi thường thiệt hại tài sản tổng cộng 11.000.000đồng. Bị đơn anh X không đồng ý theo yêu cầu của nguyên đơn. Hội đồng xét xử xét thấy theo quy định tại Điều 584 Bộ luật dân sự 2015 và theo Nghị quyết số: 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06 tháng 9 năm 2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi có đầy đủ các yếu tố: Có thiệt hại xảy ra; Có hành vi xâm phạm tài sản của người khác; Phải có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi xâm phạm. Thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi xâm phạm và ngược lại hành vi xâm phạm là nguyên nhân gây ra thiệt hại.
Xét thấy:
1. Xác định thiệt hại: Vào ngày 24/01/2023 và ngày 25/01/2023 ao cá của anh X tràn nước làm thiệt hại tài sản bà Đ có báo địa phương lập biên bản xảy ra sự việc và được địa phương liệt kê các khoản thiệt hại gồm 01 tủ quần áo; 01 tủ giày dép; 01 bàn trang điểm; 01 mô tưa; 01 giường ngủ; 01 bàn ti vi; 01 tủ quần áo nhỏ; 01 hàng rào; ốc như nguyên đơn trình bày và khởi kiện. Ông T cũng thừa nhận nước ngập có thiệt hại tài sản của bà Đ, do vậy bà Đ có thiệt hại là thực tế có xảy ra.
2. Xác định hành vi gây thiệt hại: Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì anh X là chủ sở hữu và trực tiếp chịu trách nhiệm ao cá vào ngày 24/01/2023 (nhằm mùng 03 tết âm lịch năm 2023) ao cá của anh X bị bể nước tràn vào làm ảnh hưởng thiệt hại tài sản của bà Đ, bà Đ có yêu cầu anh X phải gia cố bờ đê, cống đập Đ tránh bị thiệt hại nhưng bị đơn không khắc phục dẫn đến làm hư hỏng tài sản lời khai phù hợp với lời khai ông T người được thuê quản lý ao cá chiều ngày 28 tết âm lịch năm 2023 bị trộm lấy 02 vĩ sắt ống nước, ông T có báo cho anh X về việc mất tài sản thì anh X có nói với ông T mua vật liệu sửa chữa do không khắc phục kịp thời nên sáng mùng 3 tết âm lịch năm 2023 nhằm ngày 24/01/2023 nước tràn qua nhà người dân xung quanh, đến ngày 25/01/2023 (mùng 4 tết âm lịch năm 2023) nước tràn vào nhà người dân, trong đó có thiệt hại tài sản của bà Đ. Tại biên bản xác minh ngày 24/10/2023 trưởng ấp ông Nguyễn Văn Phụng cũng xác nhận sự việc ngày 25/01/2023 nước ngập gây thiệt hại tài sản của bà Đ do ao cá của anh X tràn qua, không phải sự cố thủy triều do con kinh dẫn trước nhà bà Đ có cống ngăn ngập. Do vậy có việc tài sản của bà Đ bị thiệt hại do ao cá anh X gây ra và việc anh X không kịp thời khắc phục hậu quả dẫn đến ngập nhà dân là nguyên nhân gây ra thiệt hại.
3. Mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi xâm phạm: Khi nước ngập ngày 24/01/2023 được ông T báo cho anh X biết, anh X phải có trách nhiệm gia cố lại bờ đê khắc phục hậu quả nhưng không khắc phục kịp thời dẫn đến ngày 25/01/2023 nước tràn các hộ xung quanh nên là nguyên nhân gây ra thiệt hại cho nguyên đơn và cũng là lỗi dẫn đến thiệt hại do anh X.
Từ những nhận định và phân tích trên thì việc yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc anh X có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại tài sản là có căn cứ.
Xét yêu cầu của bà Đ khởi kiện yêu cầu anh X bồi thường thiệt hại các khoản Tài sản bị thiệt hại. Hội đồng xét xử xét thấy theo quy định tại Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 6 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì chi phí các khoản được chấp nhận theo kết quả của Hội đồng định giá tài sản gồm: 01 tủ quần áo giá trị 1.200.000đồng; 01 tủ giày dép giá trị: 650.000đồng; 01 bàn trang điểm giá trị: 925.000đồng; 01 mô tưa giá trị: 612.500đồng; 01 giường ngủ giá trị 1.150.000đồng; 01 bàn ti vi giá trị: 750.000đồng; 01 tủ quần áo nhỏ giá trị: 400.000đồng; 01 hàng rào trị giá 3.071.407đồng. Tổng cộng: 8.758.500đồng;
Đối với 30kg ốc bưu tuy hiện trạng không còn nhưng tại thời điểm xảy ra thiệt hại có ghi nhận bà Đ có thiệt hại 30kg ốc ở biên bản xảy ra sự việc ngày 25/01/2023 có bảng kê chú thiệt hại tài sản kèm theo, biên bản hòa giải ngày 02/3/2023, biên bản xác minh ngày 24/10/2023 nên có căn cứ chấp nhận, theo Ban quản lý chợ huyện Trà Ôn cung cấp giá thị trường hiện nay là 50.000đồng/kg x 30kg bằng 1.500.000đồng.
Đối với tài sản gây thiệt hại: Theo biên bản xác minh thì tài sản gây ra thiệt hại thuộc thửa 191 thửa này tuy anh X có tách ra nhiều thửa trong đó có thửa 202 do anh Trần X Minh đứng tên nhưng anh X người trực tiếp quản lý các thửa đất tại thời điểm thiệt hại, chịu trách nhiệm, có quyền quyết định đối với tài sản nên bà Đ chỉ yêu cầu anh X bồi thường thiệt hại là có căn cứ.
Xét việc bà Đ rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với ông T là tự nguyện nên Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với phần đương sự có yêu cầu rút là phù hợp Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá: Do yêu cầu nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn chịu toàn bộ chi phí tố tụng là 800.000đồng. Bà Đ đã nộp đủ 800.000đồng nên anh X có nghĩa vụ trả lại cho bà Đ.
Xét đề nghị của kiểm sát viên là có căn cứ chấp nhận so với nhận định trên.
Về án phí dân sự sơ thẩm: anh X phải nộp 512.925đồng; Miễn án phí cho bà Đ do thuộc diện người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 40; Điều 147, khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 2, Điều 6 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đ.
1.1. Buộc anh Trần Minh X có nghĩa vụ bồi thường cho bà Nguyễn Thị Đ số tiền 10.258.500đ (Mười triệu hai trăm năm mươi tám ngàn năm trăm đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án nếu người phải thi hành án chưa trả xong số tiền trên thì hàng tháng phải trả thêm lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
1.2. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá: Anh Trần Minh X có nghĩa vụ nộp chi phí tố tụng 800.000đ (Tám trăm ngàn đồng) nhưng bà Nguyễn Thị Đ đã nộp xong nên anh Trần Minh X có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Đ.
1.3. Đình chỉ xét xử đối với phần bà Nguyễn Thị Đ rút yêu cầu đối với ông Ngô Văn T liên đới cùng anh Trần Minh X bồi thường thiệt hại.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn anh Trần Minh X có nghĩa vụ nộp 512.925đ (Năm trăm mười hai ngàn chín trăm hai mươi lăm đồng).
Miễn toàn bộ án phí cho bà Nguyễn Thị Đ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa T thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại nơi cư trú.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long; - VKS nhân dân huyện Trà Ôn; - Chi cục Thi hành án huyện Trà Ôn; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thạch Thị Tuyền |