- Tranh chấp gì? Tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp — án lao động — "Trần Việt Th - Công ty Trách nhiệm hữu hạn U"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi ki n của nguyên đơn bà Trần Vi t T đối với bị đơn Công ty Trách nhi m hữu hạn U về vi c Tranh chấp về bảo hiểm xã hội .
- Căn cứ chính? Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 10 Bộ luật Lao động
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2023/LĐ-ST Ngày 26-7-2023 V/v tranh chấp về bảo hiểm xã hội |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Tiền Giang.
Ông Nguyễn Thanh Cần.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Giáp – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét x sơ th m c ng khai vụ án thụ lý số 23/2023/TL T-LĐ ngày 13/6/2023 về vi c Tranh chấp về bảo hiểm xã hội theo Quy t định đưa vụ án ra xét x số 59/2023/QĐ T-LĐ ngày 07 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Trần Vi t T, sinh năm 1984; địa chỉ thường trú: ấp C, xã L, huy n Đ, tỉnh Bạc Liêu; địa chỉ tạm trú: tổ C, khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có mặt.
- Bị đơn: C ng ty Trách nhi m hữu hạn U; địa chỉ trụ sở chính: số H, đường L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ chi nhánh: Cụm C, khu phố P, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại di n hợp pháp của bị đơn: bà Phạm Thị Mai A, sinh năm 1978; địa chỉ liên h : Cụm C, khu phố P, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, là người đại di n theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày 21/6/2023); có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 22/5/2023 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Việt T trình bày:
Ngày 03/8/2020, bà Trần Vi t T ký Hợp đồng lao động số 240/2020/HĐLĐ-UW với Chi nhánh C ng ty Trách nhi m hữu hạn U tại Bình Dương (gọi tắt là Chi nhánh C ng ty); có địa chỉ tại: Cụm C, khu phố P, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Thời hạn ký hợp đồng là 01 năm, chức danh: nhân viên đơn hàng; mức lương chính là 6.070.000 đồng/tháng, phụ cấp hi u quả c ng vi c là 290.000 đồng/tháng; phụ cấp sáng ki n là 1.000.000 đồng/tháng. Hàng tháng, Chi nhánh Công ty T1 vào lương của bà T các khoản tiền bảo hiểm bắt buộc là 667.800 đồng.
Bà T làm vi c tại Chi nhánh C ng ty đ n ngày 03/8/2021 thì ti p tục ký Hợp đồng lao động lần 2 với thời hạn 01 năm; chức danh, mức lương chính và phụ cấp sáng ki n vẫn kh ng thay đổi; riêng phụ cấp hi u quả c ng vi c tăng lên 608.000 đồng/tháng. Hàng tháng, Chi nhánh Công ty T1 vào lương của bà T các khoản tiền bảo hiểm bắt buộc là 711.690 đồng.
Đ n ngày 10/5/2022, Chi nhánh C ng ty ban hành Quy t định chấm hợp đồng lao động số 04/2022/QĐNV-UW đối với bà T với lý do bà T có đơn xin nghỉ vi c. Tuy nhiên, bà T được bi t Chi nhánh C ng ty mới đóng tiền bảo hiểm xã hội cho bà T từ tháng 9 năm 2020 đ n h t tháng 11 năm 2020; còn từ tháng 12 năm 2020 đ n h t tháng 4 năm 2022 thì chưa đóng. Do chưa hoàn tất c ng vi c để bàn giao lại nên bà T vẫn làm vi c tại Chi nhánh C ng ty cho đ n tháng 11 năm 2022 mới nghỉ vi c. Trong thời gian đó, bà T nhiều lần yêu cầu Chi nhánh C ng ty chốt ổ bảo hiểm xã hội cho bà T thì được Chi nhánh C ng ty hẹn ngày 31 tháng 5 năm 2023 đ n nhận tờ rời ổ bảo hiểm xã hội theo Giấy hẹn số 0105/2022/HCNC (kh ng ghi ngày, tháng, năm). Gần đ n thời hạn nêu trên, nhiều lần bà T gọi đi n thoại cho nhân sự của Chi nhánh C ng ty để hỏi về vi c chốt ổ bảo hiểm xã hội thì được trả lời là Chi nhánh C ng ty kh ng có tiền để đóng bảo hiểm xã hội và nói bà T tự đi chốt ổ bảo hiểm xã hội đ n tháng 11 năm 2020, thời gian còn lại thì bỏ. Ngày 31 tháng 5 năm 2023, bà T đ n Chi nhánh C ng ty để nhận tờ rời ổ bảo hiểm xã hội thì bộ phận nhân sự của Chi nhánh C ng ty cũng trả lời là kh ng có tiền để đóng bảo hiểm xã hội cho bà T. Do đó, bà T khởi ki n yêu cầu Tòa án buộc C ng ty Trách nhi m hữu hạn U đóng bảo hiểm xã hội cho bà từ tháng 12 năm 2020 đ n h t tháng 4 năm 2022 với mức lương cơ bản là 6.070.000 đồng/1 tháng và đóng lu n phần nghĩa vụ của bà phải đóng.
Ngày 24 tháng 7 năm 2023, bà T có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi ki n, kh ng yêu cầu C ng ty đóng bảo hiểm xã hội cho bà T từ tháng 7 đ n tháng 9 năm 2021 với lý do trong thời gian này, bà T nghỉ làm do dịch Covid-19, kh ng hưởng lương.
* Bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn U (gọi tắt là Công ty) do bà Phạm Thị Mai A đại diện theo ủy quyền trình bày: bà A thống nhất toàn bộ phần trình bày của nguyên đơn bà Trần Vi t T. Do tình hình tài chính của Công ty G, từ tháng 10 năm 2022 Chi nhánh C ng ty đã tạm ngừng hoạt động, bán h t tài sản để trả lương cho người lao động và đã trả mặt bằng kinh doanh nên Chi nhánh C ng ty kh ng có tiền để đóng bảo hiểm xã hội cho bà T từ tháng 12 năm 2020 đ n h t tháng 4 năm 2022. Vì vậy, C ng ty đề nghị Tòa án giải quy t vụ án vụ án theo quy định của pháp luật.
* Tại Công văn số 83/CV-BHXH ngày 30/6/2023 và Biên bản xác minh ngày 04 tháng 7 năm 2023, Cơ quan Bảo hiểm xã hội thành phố T cung cấp thông tin có nội dung sau: Chi nhánh Công ty Trách nhi m hữu hạn U tại Bình Dương đăng ký tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y t , bảo hiểm thất nghi p, bảo hiểm tai nạn lao động và b nh nghề nghi p cho bà Trần Vi t T tại Cơ quan Bảo hiểm xã hội thành phố T từ tháng 9 năm 2020 đ n tháng 6 năm 2021 với mức lương 6.360.000 đồng/tháng; từ tháng 10 năm 2021 đ n tháng 4 năm 2022 với mức lương 6.778.000 đồng/tháng; thời gian từ tháng 7 đ n tháng 9 năm 2021, bà T nghỉ làm kh ng lương. Tuy nhiên, Chi nhánh C ng ty mới đóng bảo hiểm xã hội cho bà T từ tháng 9 năm 2020 đ n h t tháng 11 năm 2020 với mức lương là 6.360.000 đồng/tháng; thời gian còn lại thì chưa đóng; ngày 10 tháng 5 năm 2022, Chi nhánh C ng ty nộp hồ sơ báo giảm cho bà T.
Tại phiên tòa, các đương sự vẫn giữ ý ki n và yêu cầu đã trình bày, kh ng cung cấp thêm tài li u, chứng cứ gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: từ khi thụ lý vụ án đ n khi khai mạc phiên tòa sơ th m, Th m phán, Thư ký đã ti n hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định. Các đương sự đã thực hi n đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa sơ th m, Hội đồng xét x đã thực hi n đúng quy định pháp luật. Kiểm sát viên kh ng ki n nghị khắc phục hay bổ sung gì khác.
Về nội dung: bà Trần Vi t T khởi ki n yêu cầu C ng ty Trách nhi m hữu hạn U thanh toán tiền bảo hiểm xã hội cho bà thời gian từ tháng 12 năm 2020 đ n h t tháng 4 năm 2023. Quá trình giải quy t vụ án, bà T rút một phần yêu cầu khởi ki n, kh ng yêu cầu C ng ty đóng bảo hiểm xã hội cho bà thời gian từ tháng 7 đ n tháng 9 năm 2021 với lý do bà T nghỉ làm kh ng lương. Vi c rút một phần yêu cầu khởi ki n của bà T là tự nguy n nên đề nghị Hội đồng xét x đình chỉ xét x phần yêu cầu khởi ki n đã rút trong bản án. Đối với yêu cầu khởi ki n buộc C ng ty đóng bảo hiểm xã hội cho bà T từ tháng 12 năm 2020 đ n h t 6 năm 2021 và từ tháng 10 năm 2021 đ n h t tháng 4 năm 2022 với mức lương 6.070.000 đồng/tháng: xét thấy, quá trình giải quy t vụ án và tại phiên tòa, người đại di n theo ủy quyền của nguyên đơn thừa nhận, trong thời gian nêu trên, bà T có làm vi c tại Chi nhánh C ng ty Trách nhi m hữu hạn U tại Bình Dương nhưng Chi nhánh C ng ty kh ng đóng bảo hiểm xã hội cho bà T tại Cơ quan Bảo hiểm xã hội thành phố T. Tại C ng văn số 83/CV-BHXH ngày 30/6/2023 và Biên bản xác minh ngày 04 tháng 7 năm 2023 của Cơ quan Bảo hiểm xã hội thành phố T thể hi n: Chi nhánh Công ty Trách nhi m hữu hạn U tại Bình Dương đăng ký tham gia bảo hiểm xã hội cho bà Trần Vi t T từ tháng 9 năm 2020 đ n tháng 6 năm 2021 với mức lương 6.360.000 đồng/tháng; từ tháng 10 năm 2021 đ n tháng 4 năm 2022 với mức lương 6.778.000 đồng/tháng (bao gồm mức lương chính và trợ cấp hi u quả c ng vi c). Tuy nhiên, bà T chỉ yêu cầu C ng ty đóng bảo hiểm xã hội cho bà theo mức lương cơ bản ghi trong 02 hợp đồng lao động là 6.070.000 đồng/tháng, là hoàn toàn tự nguyên. Từ những căn cứ nêu trên, yêu cầu khởi ki n của bà T là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét x chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi ki n của nguyên đơn bà T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
au khi nghiên cứu các tài li u, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ k t quả tranh tụng, Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên nhận định:
Về quan h pháp luật tranh chấp, th m quyền giải quy t vụ án:
Nguyên đơn bà Trần Vi t T khởi ki n yêu cầu C ng ty Trách nhi m hữu hạn U đóng bảo hiểm xã hội cho bà T trong thời gian bà T làm vi c tại C ng ty. Do đó, quan h pháp luật được xác định là Tranh chấp về bảo hiểm xã hội theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 32 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn Công ty Trách nhi m hữu hạn U có chi nhánh tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương nên thuộc th m quyền giải quy t của Toà án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thời hi u khởi ki n: theo Giấy hẹn số 0102/2022/HCN (BL 52a) thì Chi nhánh C ng ty Trách nhi m hữu hạn U tại Bình Dương hẹn bà Trần Vi t T vào lúc 16 giờ 00 phút ngày 31/5/2023 đ n Chi nhánh C ng ty nhận sổ Bảo hiểm xã hội. Trong quá trình giải quy t vụ án và tại phiên tòa, bà T và người đại di n theo ủy quyền của C ng ty đều thừa nhận: trước khi đ n thời hạn nêu trên và khi đ n thời hạn, bà T liên h với Chi nhánh C ng ty thì được Chi nhánh C ng ty trả lời kh ng có tiền đóng bảo hiểm xã hội cho bà T nên kh ng chốt được ổ bảo hiểm xã hội. Hội đồng xét x nhận thấy hành vi của Chi nhánh C ng ty đã xâm phạm đ n quyền, lợi ích hợp pháp của bà T nên ngày 22 tháng 5 năm 2023, bà T khởi ki n yêu cầu C ng ty Trách nhi m hữu hạn U đóng bảo hiểm xã hội cho bà T là còn thời hi u khởi ki n theo quy định tại khoản 3 Điều 190 của Bộ luật Lao động năm 2019.
Về áp dụng pháp luật: thời điểm xác lập quan h lao động giữa Chi nhánh C ng ty Trách nhi m hữu hạn U tại Bình Dương với bà Trần Vi t T là ngày 03 tháng 8 năm 2020 nên Tòa án áp dụng quy định của Bộ luật Lao động năm 2012 và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi ti t, hướng dẫn áp dụng Bộ luật Lao động năm 2012 để giải quy t vụ án.
Xét hợp đồng lao động: hợp đồng lao động giao k t giữa Chi nhánh Công ty Trách nhi m hữu hạn U tại Bình Dương với bà Trần Vi t T được lập thành văn bản (theo các Hợp đồng lao động số 240/2020/HĐLĐ-UW ngày 03 tháng 8 năm 2020 và số 04/2021/HĐLĐ-UW ngày 10 tháng 5 năm 2021 – BL 18-19), loại hợp đồng xác định thời hạn là 01 năm, khi xác lập hợp đồng các bên đều tự nguy n, kh ng bị ai ép buộc, nội dung thỏa thuận kh ng vi phạm điều cấm, kh ng trái đạo đức xã hội và phù hợp quy định pháp luật nên hợp đồng lao động giữa giữa Chi nhánh Công ty và bà Trần Vi t T có hi u lực pháp luật.
Xét vi c rút một phần yêu cầu khởi ki n của nguyên đơn bà Trần Vi t T: ngày 24 tháng 7 năm 2023, nguyên đơn bà Trần Vi t T có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi ki n, kh ng yêu cầu C ng ty đóng bảo hiểm xã hội cho bà từ tháng 7 đ n tháng 9 năm 2021. Vi c rút một phần yêu cầu khởi ki n của nguyên đơn là tự nguy n nên Hội đồng xét x căn cứ vào khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đình chỉ xét x phần yêu cầu khởi ki n đã rút.
Quá trình giải quy t vụ án và tại phiên tòa, người đại di n theo ủy quyền của C ng ty thừa nhận giữa Chi nhánh C ng ty và bà Trần Vi t T lần lượt giao k t 02 Hợp đồng lao động có thời hạn là 01 năm (từ ngày 03 tháng 8 năm 2020 đ n ngày 02 tháng 8 năm 2022), chức danh là nhân viên đơn hàng, mức lương chính là 6.070.000 đồng/tháng, phụ cấp hi u quả c ng vi c là 290.000 đồng/tháng, phụ cấp sáng ki n là 1.000.000 đồng/tháng; từ ngày 03/8/2021 phụ cấp hi u quả c ng vi c tăng lên 608.000 đồng/tháng. Ngày 10/5/2022, Chi nhánh C ng ty chấm hợp đồng lao động với bà T (theo Quy t định số 04/2022/QĐNV-UW) nhưng chưa đóng bảo hiểm xã hội cho bà T từ tháng 12 năm 2020 đ n tháng 4 năm 2022. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây được xem là “những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh”.
Xét yêu cầu khởi ki n của nguyên đơn bà Trần Vi t T về vi c yêu cầu Tòa án buộc bị đơn C ng ty Trách nhi m hữu hạn U đóng tiền bảo hiểm xã hội cho bà T từ tháng 12 năm 2020 đ n h t 6 năm 2021 và từ tháng 10 năm 2021 đ n h t tháng 4 năm 2022:
Về thời gian chưa đóng bảo hiểm xã hội
ự thừa nhận của người đại di n theo ủy quyền của C ng ty tại mục [6] là phù hợp với ý ki n của Cơ quan Bảo hiểm xã hội thành phố T (BL 50-52) , nên có cơ sở xác định Chi nhánh C ng ty chưa đóng bảo hiểm xã hội cho bà Trần Vi t T từ tháng 12 năm 2020 đ n tháng 6 năm 2021 và từ tháng 10 năm 2021 đ n h t tháng 4 năm 2022, là vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 21 của Luật Bảo hiểm xã hội 2014 quy định về nghĩa vụ của người s dụng lao động “Đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều 86 và hằng tháng trích từ tiền lương của người lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 85 của Luật này để đóng cùng một lúc vào quỹ bảo hiểm xã hội”. Do đó, yêu cầu khởi ki n của bà Trần Vi t T buộc Công ty Trách nhi m hữu hạn U đóng bảo hiểm xã hội cho bà từ tháng 12 năm 2020 đ n tháng 6 năm 2021 và từ tháng 10 năm 2021 đ n h t tháng 4 năm 2022 là có căn cứ chấp nhận.
Căn cứ vào Phi u lương của bà Trần Vi t T từ tháng 12 năm 2020 đ n tháng 6 năm 2021 và từ tháng 10 năm 2021 đ n tháng 4 năm 2022 đều thể hi n hàng tháng C ng ty trừ vào vào lương của bà T tiền bảo hiểm xã hội (BL 02-14) nhưng kh ng trích nộp tiền bảo hiểm xã hội cho bà T tại Cơ quan Bảo hiểm xã hội thành phố T là vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 21 của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, làm ảnh hưởng đ n quyền lợi hợp pháp của bà T. Do đó, bà T khởi ki n yêu cầu C ng ty có nghĩa vụ trích nộp tiền bảo hiểm xã hội từ tháng 12 năm 2020 đ n tháng 6 năm 2021 và từ tháng 10 năm 2021 đ n tháng 4 năm 2022 đối với phần nghĩa vụ của bà T phải đóng vào Quỹ bảo hiểm xã hội là có căn cứ chấp nhận.
Về tiền lương đóng bảo hiểm xã hội:
Tại C ng văn số 83/CV-BHXH ngày 30/6/2023 và Biên bản xác minh ngày 04 tháng 7 năm 2023 của Cơ quan Bảo hiểm xã hội thành phố T thể hi n: Chi nhánh C ng ty Trách nhi m hữu hạn U tại Bình Dương đăng ký tham gia bảo hiểm xã hội cho bà Trần Vi t T từ tháng 9 năm 2020 đ n tháng 6 năm 2021 với mức lương 6.360.000 đồng/tháng; từ tháng 10 năm 2021 đ n tháng 4 năm 2022 với mức lương 6.778.000 đồng/tháng (bao gồm mức lương chính và trợ cấp hi u quả c ng vi c – BL 50-52).
Tuy nhiên, bà T chỉ yêu cầu C ng ty đóng bảo hiểm xã hội cho bà với mức lương chính 6.070.000 đồng/tháng theo 02 Hợp đồng lao động đã giao k t (BL 18-19), là hoàn toàn tự nguy n nên Hội đồng xét x ghi nhận.
Từ những phân tích trên và lập luận nêu tại các mục [7.1], [7.2] và [7.3], có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi ki n của nguyên đơn bà Trần Vi t T
Ý ki n của đại di n Vi n Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên là phù hợp.
Về án phí lao động sơ th m: do yêu cầu của nguyên đơn bà Trần Vi t T được chấp nhận nên bị đơn C ng ty Trách nhi m hữu hạn U phải chịu án phí lao động sơ th m theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 92, khoản 1 Điều 218, Điều 147, khoản 1 Điều 227; các Điều 244, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 3 Điều 190 của Bộ luật Lao động năm 2019;
Căn cứ các Điều 10, 21, 22, 47 và 90 của Bộ luật Lao động năm 2012;
Căn cứ Điều 18, Điều 19, khoản 2 Điều 21 của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị Quy t số 326/2016/UBTVQH14Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và s dụng án phí và l phí tòa án,
Tuyên x :
1. Chấp nhận yêu cầu khởi ki n của nguyên đơn bà Trần Vi t T đối với bị đơn Công ty Trách nhi m hữu hạn U về vi c Tranh chấp về bảo hiểm xã hội .
Buộc C ng ty Trách nhi m hữu hạn U có nghĩa vụ truy đóng bảo hiểm xã hội cho bà Trần Vi t T, mã số bảo hiểm xã hội 9521977760 theo quy định của pháp luật kể từ tháng 12 năm 2020 đ n tháng 6 năm 2021 và từ tháng 10 năm 2021 đ n tháng 4 năm 2022 với mức lương 6.070.000 đồng/tháng tại Cơ quan Bảo hiểm xã hội thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vi c đóng bảo hiểm xã hội C ng ty phải thực hi n ngay sau khi bản án có hi u lực pháp luật.
2. Đình chỉ xét x yêu của nguyên đơn bà Trần Vi t T về vi c buộc bị đơn C ng ty Trách nhi m hữu hạn U có nghĩa vu đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 7 đ n tháng 9 năm 2021.
Nguyên đơn bà Trần Vi t T được quyền khởi ki n lại đối với phần yêu cầu đã rút theo quy định tại khoản 1 Điều 218 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
3. Về án phí lao động sơ th m: bị đơn C ng ty Trách nhi m hữu hạn U phải chịu 300.000 đồng án phí lao động sơ th m.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sựngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguy n thi hành án hoặc bị cưỡng ch thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hi u thi hành án được thực hi n theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VK ND tỉnh Bình Dương; - VK ND thành phố Tân Uyên; - Chi cục THAD thành phố Tân Uyên; - Đương sự (2); - Lưu: văn thư, hồ sơ, 8. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hiền |