vanban.org

Bản án 20/2023/HSST — Hình sự

TAND TX. Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 14/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo N H C phạm tội “ Hủy hoại tài sản ”.

Áp dụng: khoản 1 điều 178 ; điểm s khoản 1 điều 51; điểm g khoản 1 điều 52; điều 38 BLHS. Xử phạt: bị cáo N H C 16 ( mười sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày bắt tạm giam ( 20/3/2023). Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 điều 48 BLHS; điều 584; 585; khoản 1 điều 589 BLD… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyen huu cuong pham toi huy hoai tai san - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo N H C phạm tội “ Hủy hoại tài sản ”.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 178 Bộ luật Hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BỈM SƠN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20 /2023 / HSST
Ngày: 14 / 6 /2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN, TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tạ Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phùng Thị Mai Hương; Ông Nguyễn Quốc Sáu.

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Ngọc Lan - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huấn - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 6 năm 2023 , tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hoá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17 /2023 /TLST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2023 , theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16 /2023/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo: Họ và tên: N H C – Sinh ngày 25/01/1984 Tại: N, T. Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay : Khu phố Đ, phường Đ, thị xã B, tỉnh T. Nghề nghiệp: lao động tự do; Văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không ; Con ông: N H P sinh năm 1952 ; Con bà: N T H sinh năm 1952 ; có vợ là: N T N sinh năm 1984 , có 02 con, con lớn sinh năm 2006, con thứ hai sinh năm 2008 .Tiền án: không ; Tiền sự: không. Về nhân thân: Ngày 06/4/2013 bị Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh T xử phạt 15 tháng về tội : “ Hủy hoại tài sản” , đã chấp hành xong bản án ngày 30/4/2014. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/3/2023, có mặt tại phiên tòa. Người bào chữa cho bị cáo N H C: Luật sư N V H công tác tại công ty Luật TNHH P, đoàn luật sư Tp H ( có mặt) Bị hại : Bà L T L sinh năm 1980; Trú tại: Xóm T, phường Đ, thị xã B, tỉnh T ( có mặt) Ngƣời làm chứng: -Anh H V C sinh năm 1972 Trú tại: Khu phố X, phường L, thị xã B, tỉnh T ( có mặt) -Anh N H K sinh năm1949 Trú tại: Khu phố X, phường L, thị xã B, tỉnh T ( vắng mặt) -Anh P V T sinh năm 1955 Trú tại: Khu phố X, phường L, thị xã B , tỉnh T ( vắng mặt) -Anh T N C sinh năm 1974 Trú tại: Khu phố X, phường , thị xã B, tỉnh T ( vắng mặt) -Chị N T N sinh năm 1984 Trú tại: Khu phố Đ , phường Đ , thị xã B , tỉnh T (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2012, do có tranh chấp đất đai với gia đình bà L T L và ông N H B, N H C đã có hành vi nhổ dứa, phá mía của gia đình chị L và ông B bị TAND thị xã B xử phạt 15 tháng tù về tội “Huỷ hoại tài sản”. Trong thời gian này, theo đơn khởi kiện của N H C, TAND tỉnh T và TAND cấp cao tại H đã xét xử vụ án dân sự về “tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa gia đình C và gia đình bà L, ông B. Kết quả cả hai bản án đều bác đơn khởi kiện của N H C, xác định diện tích đất của từng hộ gia đình, trong đó xác định diện tích đất của gia đình bà L T L như sau:

- Phía Bắc giáp đất ông T, có chiều dài 113,6m (điểm mốc từ đất anh Cường kéo dài đến hồ, giáp cây liễu).

- Phía Nam giáp đất anh C: 123,57m (nối từ móng nhà cấp 4 phía Đông của ông T kéo về phía Tây).

- Phía Đông giáp đập chứa nước 56,32m, kéo từ điểm mốc phía Nam móng nhà của ông T kéo về phía Bắc, qua hồ.

- Phía Tây giáp đất anh C 57m

Tổng diện tích 7.035,6m2.

Gia đình bà L (sau này là anh T N Ch, sinh năm 1974, trú tại: Khu phố 6, phường L, thị xã B - người lúc đầu nhận chuyển nhượng đất của bà L, sau đó, trả lại đất và làm thuê cho bà L) đã sử dụng đúng với diện tích đất được hai cấp Toà án phân chia, xác định để trồng dứa, không có ai tranh chấp gì. Tuy nhiên, từ cuối năm 2020, N H C cho rằng bản án dân sự của Toà án hai cấp xác định, phân chia sai diện tích đất giữa 3 nhà (nhà C, bà L, ông B) nên phát sinh tranh chấp với gia đình bà L, cho rằng bà L lấn chiếm đất của gia đình C để trồng dứa. Vụ việc được UBND phường L tiếp nhận giải quyết theo đơn đề nghị của C. Trong quá trình UBND phường L đang giải quyết, yêu cầu các bên giữ nguyên hiện trạng đất đai thì trong thời gian 02 ngày (ngày 12/5/2021 và ngày 19/5/2021), N H C đã có hành vi nhổ bỏ 3.228 cây dứa của gia đình bà Lã Thị Lộc. Cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Rạng sáng ngày 12/5/2021, C đi bộ từ nhà ra khu đồi dứa của gia đình bà L dùng tay không nhổ bật gốc 1.200 cây dứa đã trồng được khoảng 3 tháng tuổi. Nhổ đến đâu C để lại ngay bên cạnh nơi trồng đến đấy.

Lần thứ hai: Rạng sáng ngày 19/5/2021, C cũng đi bộ từ nhà ra khu đồi dứa của gia đình bà L dùng tay không nhổ bật gốc 2028 cây dứa đã trồng được khoảng 03 tháng tuổi. Nhổ đến đâu C để lại ngay bên cạnh nơi trồng đến đấy.

Toàn bộ số dứa C nhổ trong hai ngày (12/5/2021 và 19/5/2021) đã bị khô, héo không còn giá trị sử dụng.

Sau khi nhổ dứa ngày 19/5/2021, C lên mạng xã hội vào trang facebook cá nhân của mình tên “N C” phát trực tiếp 02 lần quay lại diện tích dứa Cường đã nhổ bỏ trong ngày 12/5/2021 và ngày 19/5/2021 khẳng định mình nhổ dứa của gia đình anh C (thực chất là dứa của bà L) nhằm kêu gọi cộng đồng mạng lên tiếng phản đối hai bản án dân sự về việc giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất giữa gia đình C và gia đình bà L, ông B. C cho rằng gia đình bà L (anh C) chiếm đất của gia đình C.

Phát hiện dứa nhà mình bị nhổ, bà L đã báo cáo Cơ quan Công an và đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Cơ quan CSĐT Công an thị xã Bỉm Sơn đã tiếp nhận nguồn tin, tiến hành khám nghiệm hiện trường, định giá tài sản và điều tra theo quy định.

* Kết quả khám nghiệm hiện trƣờng:

Hiện trường nơi xảy ra vụ việc được xác định tại khu đất giáp ranh của gia đình bà L T L và N H C tại đồi Ống, khu phố 4, phường L, thị xã B: phía Đông giáp đập chứa nước, phía Tây giáp khu đất nhà C, phía Nam giáp khu đất nhà C, phía Bắc giáp khu đất nhà L (chính là vị trí đất mà bản án dân sự phúc thẩm đã xác định thuộc quyền sử dụng của gia đình bà L).

Hiện trường trung tâm với tổng diện tích khu đất là 536,1m2. được xác định cụ thể:

- Khu đất có 05 luống trồng dứa bị nhổ, mỗi luống có 04 hàng dứa, dài 23,8m, rộng 9,8m.

- Khu đất có 04 luống trồng dứa bị nhổ, mỗi luống có 04 hàng dứa, dài 14m, rộng 8,1m.

- Khu đất có 03 luống trồng dứa bị nhổ, mỗi luống có 04 hàng dứa, dài 12,4m, rộng 5,9m.

- Khu đất có 02 luống trồng dứa bị nhổ, mỗi luống có 04 hàng dứa, dài 23.4m, rộng 4,2m.

- Khu đất có 01 luống trồng dứa bị nhổ, mỗi luống có 04 hàng dứa, dài 10m, rộng 1,8m.

Tại hiện trường ghi nhận được 3.228 cây dứa đã bị nhổ bỏ. Các cây dứa có đặc điểm cao 50cm, tán rộng 50cm, đã bén rễ, đang trong tình trạng khô, héo không còn giá trị sử dụng.

* Kết quả định giá tài sản

Ngày 14/6/2021, Hội đồng định giá tài sản thị xã Bỉm Sơn định giá mô phỏng kết luận: Tổng số lượng 3228 cây dứa bị nhổ có tổng giá trị tại thời điểm bị xâm hại là 17.754.000 đồng (Mười bảy triệu bảy trăm năm mươi tư nghìn đồng). Cụ thể:

- Ngày 12/5/2021: 1200 cây dứa có giá trị là 6.600.000 đồng (sáu triệu sáu trăm nghìn đồng).

- Ngày 19/5/2021: 2028 cây dứa có giá trị là 11.154.000 đồng (mười một triệu một trăm năm mươi tư nghìn đồng).

* Về trách nhiệm dân sự: 3.228 cây dứa bị N H C nhổ bỏ là tài sản của gia đình bà L T L (do anh T N C được thuê trồng). Bà L yêu cầu N H C khắc phục, bồi thường thiệt hại theo kết quả định giá của Hội đồng định giá nhưng đến nay C vẫn chưa bồi thường.

Tại bản cáo trạng số: 23 /CT-VKS-BS ngày 25 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã B đã truy tố N H C về tội : “ Hủy hoại tài sản ” theo quy định tại khoản 1 điều 178 của BLHS. Tại phiên tòa, đại diện VKS đề nghị hội đồng xét xử tuyên bị cáo phạm tội “ Hủy hoại tài sản” theo khoản 1 điều 178 BLHS. Đề nghị áp dụng khoản 1 điều 178; điểm s khoản 1 điều 51; điểm g khoản 1 điều 52; điều 38 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo N H C từ 12 đến 15 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự đề nghị áp dụng khoản 1 điều 48 BLHS; khoản 1 điều 584; khoản 1 điều 585; khoản 1 điều 589 BLDS buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho gia đình bà L T L số tiền 17.754.000đ giá trị 3228 cây dứa bị phá hủy. Tại phiên tòa luật sư trình bày quan điểm bào chữa cho bị cáo do gia đình bà L trồng dứa trên đất của gia đình bị cáo nên bị cáo nhổ dứa để bảo vệ quyền lợi của mình, người bị hại cũng có lỗi là trồng dứa trên đất của gia đình bị cáo đề nghị hội đồng xét xử xem xét. Tại phiên tòa người bị hại bà L T L khẳng định gia đình bà trồng dứa trên diện tích đất theo bản án của hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm đã chia không có việc gia đình bà trồng trên đất của gia đình bị cáo, việc bị cáo phá dứa của gia đình bà đề nghị xem xét giải quyết theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã B; Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân thị xã B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra bị cáo khai báo thành khẩn hành vi nhổ số lượng cây dứa trong hai ngày 12/5/2021 và ngày 19/5/2021 tổng là: 3228 cây dứa của gia đình bà L T L. Tuy nhiên, bị cáo cho rằng việc bị cáo nhổ dứa là do bà L trồng trên đất của gia đình bị cáo nên bị cáo không thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy việc tranh chấp đất đai giữa các gia đình đã được Tòa án nhân dân tỉnh T xét xử sơ thẩm và Tòa án nhân dân cấp cao tại H xét xử phúc thẩm và bản án đã có hiệu lực pháp luật, gia đình bà L T L trồng dứa trên đất đó từ nhiều năm trước. Trong thời gian phường L thị xã B hòa giải yêu cầu các bên giữ nguyên hiện trạng bị cáo lại tiếp tục nhổ dứa mặc dù bị cáo biết là dứa của gia đình bà L trồng từ nhiều năm nay . Hành vi của bị cáo gây thiệt hại về tài sản cho gia đình bà L. Theo kết quả định giá mô phỏng của hội đồng định giá tài sản thì giá trị tổng số dứa bị C nhổ tổng là 3228 cây trị giá là 17.754.000đ ( mười bảy triệu, bảy trăm năm mươi tư ngàn đồng). Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tôi: “ Hủy hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 178 của BLHS. [3]. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác. Trong thời gian ngắn bị cáo đã nhổ cây trồng của người dân với số lượng lớn , gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần phải xét xử bị cáo bằng một mức án nghiêm minh nhằm răn đe giáo dục bị cáo và nhằm đấu tranh phòng chống tội phạm. [4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi nhổ dứa của gia đình bà L T L nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo theo quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 của BLHS. Về tình tiết tăng nặng bị cáo phải chịu một tình tiết tăng nặng là: “ phạm tội từ 02 lần trở lên ” được quy định tại điểm g khoản 1 điều 52 của BLHS. [5] Xét về nhân thân: Bị cáo nhân thân xấu năm 2013 đã từng bị Tòa án nhân dân thị xã B xét xử về tội : „ Hủy hoại tài sản” về hành vi nhổ cây dứa, mía của gia đình ông T, ông B cũng trên diện tích đất lần này bị cáo nhổ dứa của gia đình bà L T L, điều đó thể hiện bị cáo không ý thức được việc làm của mình là sai trái mà vẫn tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần xét xử bị cáo bằng một mức án nghiêm khắc và cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định để bị cáo cải sửa bản thân phấn đấu trở thành người công dân có ích cho xã hội. [6] – Về trách nhiệm Dân sự : Căn cứ khoản 1 điều 48 BLHS; điều 584; 585; khoản 1 điều 589 BLDS buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường giá trị cây dứa đã bị nhổ cho gia đình bà L T L tổng số tiền là: 17.754.000đ ( mười bảy triệu, bảy trăm năm mươi tư ngàn đồng) [7]. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Điểm b mục 1.3danh mục về mức án phí ban hành theo nghị quyết số 326/2026/ UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 buộc bị cáo N H C phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 887.700đ án phí DSST .

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo N H C phạm tội “ Hủy hoại tài sản ”.

Áp dụng: khoản 1 điều 178 ; điểm s khoản 1 điều 51; điểm g khoản 1 điều 52; điều 38 BLHS.

Xử phạt: bị cáo N H C 16 ( mười sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày bắt tạm giam ( 20/3/2023). Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 điều 48 BLHS; điều 584; 585; khoản 1 điều 589 BLDS buộc bị cáo N H C phải có trách nhiệm bồi thường giá trị 3228 cây dứa đã bị nhổ cho gia đình bà L T L tổng số tiền là: 17.754.000đ ( mười bảy triệu, bảy trăm năm mươi tư ngàn đồng). Kể từ khi án có hiệu lực pháp luật, bà L T L có đơn đề nghị thi hành án nếu bị cáo không chịu thi hành hoặc thi hành không đầy đủ số tiền nói trên cho gia đình bà L thì hàng tháng bị cáo còn phải chịu thêm khoản lãi suất chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, mức lãi suất bắng ½ mức lãi suất quy định tại khoản 1 điều 468 BLDS.

2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Điểm b mục 1.3danh mục về mức án phí ban hành theo nghị quyết số 326/2026/ UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 buộc bị cáo N H C phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 887.700đ án phí DSST .

Bị cáo và bị hại bà L T L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ( 14 / 6 /2023 ).

Bản án này được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7a và 9 Luật thi hành án Dân sự. Thời hiệu thi hành án Dân sự được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ