- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Phan Minh T bị truy tố về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 BLHS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật s…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phan Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 42 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN ND Q.SƠN TRÀ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2023/HSST Ngày 29.3.2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, TP ĐÀ NẴNG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thanh Thủy
Các Hội thẩm nhân dân:- Ông Nguyễn Kim Thành, Cán bộ hưu trí
- Ông Nguyễn Văn Đích, Cán bộ hưu trí
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Lã Phú Huy - Thư ký Tòa án nhân dân Quận Sơn Trà TP Đà Nẵng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà TP Đà Nẵng tham gia phiên tòa: ông Hà Hoàng Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 29.03.2023 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 18/2023/HSST ngày 06.3.2023, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2023/HSST-QĐ ngày 14.3.2023 đối với bị cáo:
Phan Minh T; Sinh ngày: 13.02.1970, tại Quảng Nam
Nơi ĐKNKTT: không xác định.
Chổ ở: Phòng 309A Block2, chung cư Nesthome, phường MT, quận S, TP. Đà Nẵng.
Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 12/12;
Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Phan Minh Ch (1943) và bà Nguyễn Thị E (1945);
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt ngày 09.01.2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Hòa Sơn
- Công an thành phố Đà Nẵng.Có mặt.
*Bị hại:
1. Ông Phạm Văn Ch, sinh năm 1984. Nơi ĐKNKTT: thôn CP, xã LH, huyện ĐA, TP Hà Nội. Hiện cư trú tại: số 620 NgQ, phường AHB, quận S, TP Đà Nẵng, SĐT: 0334351984. Có mặt
2.Ông Nguyễn Văn Kh, sinh năm 1993. Trú tại: số 30 Trương Định, tổ 28, phường MT, quận S, TP Đà Nẵng. SĐT:0766512559, vắng mặt
*Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Đức Ch, sinh năm 1982. Trú tại: K58/18 LDD, phường PN, quận H, TP Đà Nẵng. vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có nghề nghiệp và thu nhập nên trong khoảng thời gian từ ngày 04/6/2022 đến ngày 23/8/2022, Phan Minh T đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn quận Sơn Trà để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 04.6.2022, Phan Minh T đi bộ quanh tuyến đường Ngô Quyền, quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng tìm kiếm cửa hàng, nhà dân sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi đi ngang qua cửa hàng nội thất Chung Mai tại địa chỉ số 620 NgQ, phường AHB, quận S, TP Đà Nẵng do anh Phạm Văn Ch (Sinh năm 1984, trú 620 NgQ, phường AHB, quận S, TP Đà Nẵng) làm chủ, T phát hiện cửa hàng đang mở cửa và không có người trông coi nên T đi vào bên trong cửa hàng để tìm tài sản thì phát hiện trên một bàn gỗ trang điểm có để 01 điện thoại hiệu Iphone Xsmax, màu vàng và 01 điện thoại hiệu Redmi 9 Pro, màu xanh của anh Phạm Văn Ch. Sau đó, T lấy trộm 02 chiếc điện thoại trên rồi mang ra ngoài đi về nhà. Đến trưa ngày 05/6/2022, T mang 02 chiếc điện thoại đến cửa hàng điện thoại Gia Nguyễn tại số 238 Hoàng Diệu, quận Hải Châu, TP Đà Nẵng bán cho chủ cửa hàng được số tiền 1.500.000 đồng. Số tiền có được, T đã tiêu xài hết.
* Tang vật thu giữ: 01 CD màu vàng lưu trữ dữ liệu camera an ninh ghi lại sự việc ngày 04/6/2022 do anh Phạm Văn Ch giao nộp.
Tại Kết luận số 49/KL-HĐĐGTS ngày 30.11.2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND quận Sơn Trà xác định:
- 01 điện thoại di động Iphone XsMax màu vàng trị giá 4.500.000 đồng;
- 01 điện thoại di động Redmi 9 Pro màu xanh trị giá 1.500.000 đồng.
* Về dân sự: Anh Phạm Văn Ch yêu cầu bồi thường giá trị của -02 chiếc điện thoại với số tiền 17.000.000 đồng.
Vụ thứ hai: Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 23.8.2022, Phan Minh T tiếp tục đi bộ trên các tuyến đường phường MT, quận S tìm kiếm nhà dân sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi đi qua số nhà 30 Trương Định, phường MT, quận S, T thấy cửa chính mở nên đi vào bên trong lục tìm tài sản. T đi vào phòng ngủ thì thấy anh Nguyễn Văn Kh (Sinh năm: 1993; trú: Số 30 Trương Định, phường Mân Thái) đang ngủ và để 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A9 màu xanh bên cạnh gối đầu. T lấy trộm điện thoại này của anh Khoa và mang ra ngoài. Sau khi trộm cắp được tài sản, T bán 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A9 cho một người đàn ông (chưa xác định lai lịch) tại khu vực bãi biển Mân Thái với giá 1.300.000 đồng và sử dụng tiêu xài hết.
* Tang vật thu giữ: 01 CD màu vàng lưu trữ dữ liệu camera an ninh ghi lại sự việc ngày 23/8/2022 do anh Nguyễn Văn Kh giao nộp.
Tại Kết luận số 49/KL-HĐĐGTS ngày 30.11.2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND quận Sơn Trà xác định:
- 01 điện thoại di động Oppo A9 màu xanh trị giá 2.500.000 đồng;
* Về dân sự: Anh Nguyễn Văn Kh yêu cầu Phan Minh T bồi thường số tiền 8.500.000 đồng.
Tại Bản cáo trạng số 22/CT-VKS ngày 06.3.2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Phan Minh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173 BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS, xử phạt bị cáo từ 01 năm 3 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.
-Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho người bị hại là: Phạm Văn Ch số tiền 6.000.000 đồng; Nguyễn Văn Kh số tiền 2.500.000 đồng
-Xử lý vật chứng: Đề nghị Lưu hồ sơ 01 CD màu vàng lưu trữ dữ liệu camera an ninh ghi lại sự việc ngày 04/6/2022 của anh Phạm Văn Ch và 01 CD màu vàng lưu trữ dữ liệu camera an ninh ghi lại sự việc ngày 23.8.2022 của anh Nguyễn Văn Kh.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo cho rằng cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS là đúng người, đúng tội. Bị cáo đã thấy được lỗi lầm, ăn năn hối cải, mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên đều hợp pháp.
Về tội danh: Xét lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại cùng các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:
Trong khoảng thời gian từ ngày 04.6.2022 đến ngày 23.8.2022, tại phường An Hải Bắc, Mân Thái, quận Sơn Trà, Phan Minh T đã thực hiện 02 lần trộm cắp tài sản gồm: 01 điện thoại hiệu Iphone Xsmax, màu vàng trị giá 4.500.000 đồng; 01 điện thoại hiệu Redmi 9 Pro, màu xanh trị giá 1.500.000 đồng của anh Phạm Văn Ch và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A9 màu xanh trị giá 2.500.000 đồng của anh Nguyễn Văn Kh. Tổng giá trị tài sản mà Phan Minh T đã chiếm đoạt được là 8.500.000 đồng.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội “ Trộm cắp tài sản” được quy định tại Điều 173 BLHS. Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng truy tố bị cáo là có cơ sở, đúng pháp luật.
Trong khoảng thời gian ngắn mà bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự liều lĩnh và xem thường pháp luật, đã trực tiếp xâm hại đến tài sản của người khác, gây hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân về tệ nạn trộm cắp. Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng. Bị cáo đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp, mỗi lần trộm cắp đều có giá trị trên 2.000.000 đồng nên cần áp dụng tình tiết “Phạm tội nhiều lần” được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS. Theo cung cấp của Sở Ngoại vụ TP Đà Nẵng, vào năm 2020 bị cáo Phan Minh T đã thực hiện hành vi trộm cắp tại Bang Califonia, Hoa Kỳ, bị kết án 01 năm, sau khi mãn hạn tù ngày 15.3.2021 bị trục xuất về nước, Nay lại tiếp tục phạm tội, do vậy, việc đưa bị cáo ra xét xử và tuyên phạt một mức án nghiêm. Nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục và ren đe phòng ngừa.
Xét thấy quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS để xem xét mức hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 42 BLHS, Điều 589 BLDS buộc bị cáo phải bồi thường cho người bị hại là: Phạm Văn Ch số tiền 6.000.000 đồng; Nguyễn Văn Khoa số tiền 2.500.000 đồng
Đối với bà Võ Thị Bích Nga và ông Lâm Thanh Hùng không biết những tài sản do Hiền mang đến bán là do phạm tội mà có nên Cơ quan CSĐT CA quận Sơn Trà không đề cập xử lý là có căn cứ. Đối với anh Nguyễn Đức Ch (Sinh năm: 1982; trú: Số 238 Hoàng Diệu, quận Hải Châu) là chủ cửa hàng điện thoại Gia Nguyễn tại số 238 Hoàng Diệu, quận Hải Châu: Anh Châu khai nhận không quen biết và không mua bán điện thoại của Phan Minh T. Ngoài lời khai của T, quá trình điều tra không thu giữ được các tang vật cùng các tài liệu, chứng cứ khác liên quan đến việc mua bán nên Cơ quan CSĐT Công an quận Sơn Trà không đủ cơ sở xem xét xử lý đối với anh Châu.
Đối với người đàn ông mua 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A9 màu xanh của Phan Minh T vào ngày 23/8/2022 tại khu vực bãi biển Mân Thái: Hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan CSĐT Công an quận Sơn Trà tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau là phù hợp.
Xử lý vật chứng: Đối với 01 CD màu vàng lưu trữ dữ liệu camera an ninh ghi lại sự việc ngày 04/6/2022 của anh Phạm Văn Ch và 01 CD màu vàng lưu trữ dữ liệu camera an ninh ghi lại sự việc ngày 23/8/2022 của anh Nguyễn Văn Kh cần lưu theo hồ sơ vụ án.
Về án phí: Theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án thì Án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) và 425.000 đồng (bốn trăm hai mươi lăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm buộc bị cáo phải chịu.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1.Tuyên bố: Bị cáo Phan Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản".
- Căn cứ: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS;
Xử phạt: Phan Minh T 01 năm 3 tháng (một năm ba tháng ) tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09.01.2023.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 42 BLHS, Điều 589 BLDS buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Phạm Văn Ch số tiền 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng); Nguyễn Văn Khoa số tiền 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm ngàn đồng)
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS, tuyên quy trữ tại hồ sơ vụ án: 01 CD màu vàng lưu trữ dữ liệu camera an ninh ghi lại sự việc ngày 04/6/2022 của anh Phạm Văn Ch và 01 CD màu vàng lưu trữ dữ liệu camera an ninh ghi lại sự việc ngày 23.8.2022 của anh Nguyễn Văn Kh
3. Án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) và 425.000 đồng (bốn trăm hai mươi lăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thấm buộc bị cáo phải chịu.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, những người có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm;
Riêng người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận - VKSND quận Sơn Trà - VKS ND TPĐN, TAND TPĐN - Công an quận Sơn Trà - Bị cáo; Người tham gia tố tụng - Trại giam Công an TPĐN - Sở Tư pháp - Lưu HS | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Phạm Thanh Thủy |