vanban.org

Bản án 20/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên Tuyên án 24/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu D phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.

Xử phạt Nguyễn Hữu D 07 (bẩy) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện K, tỉnh Hưng Yên nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự sơ thẩm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu D phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 191 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN ND HUYỆN YÊN MỸ
TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Án số: 20/2023/HSST
Ngày 24/03/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MỸ, TỈNH HƯNG YÊN

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Kiên.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Kiên – Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên.

- Đại diệnViện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ tham gia phiên toà:

Bà Lê Thị Nhung – Kiểm sát viên.

Trong ngày 24/03/2023, tại trụ sở tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ - tỉnh Hưng Yên, xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự thụ lý số 23/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 03 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2023/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 03 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Hữu D - sinh năm 1973. Sinh, trú quán: thôn Đ, xã N, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không.Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 6/10. Họ tên bố: Nguyễn Hữu P. Sinh năm:1949. Già yếu. Họ tên mẹ: Đoàn Thị H. Sinh năm 1949. Già yếu.Gia đình có 05 anh em, bị cáo là thứ hai. Có vợ là Vũ Thị Đ. Sinh năm: 1975. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 1996, con nhỏ sinh năm 2011. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/01/2023 đến ngày 20/01/2023. Hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Vũ Thị Đ, sinh năm 1975. Có mặt Trú tại: thôn Đ, xã N, huyện K, tỉnh Hưng Yên.

* Người làm chứng:

- Ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1971. Có mặt

- Bà Đào Thị D, sinh năm 1972. Có mặt Đều trú tại: thôn Đ, xã N, huyện K, tỉnh Hưng Yên.

- Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1983. Vắng mặt

- Anh Nguyễn Hữu T, sinh năm 1990. Vắng mặt Đều trú tại: thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.

- Anh Bùi Văn T, sinh năm 1980. Vắng mặt Trú tại: Tổ 9, khu 1B, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do bản thân có nhu cầu mua pháo về đốt chơi Tết nguyên đán 2023, nên vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 17/01/2023, Nguyễn Hữu D đang ở nhà của mình tại thôn Đ, xã N, huyện K, tỉnh Hưng Yên, thông qua tự tìm trên mạng internet thì D thấy trên một trang mạng có đăng nội dung bán pháo nổ ở khu vực tỉnh Hưng Yên, ai có nhu cầu thì liên hệ số điện thoại 0936886046 (D không nhớ là xem thông tin này ở đâu). Thấy vậy D sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J4 màu đen của D, bên trong lắp sim điện thoại số thuê bao 097277283 gọi đến số điện thoại trên để hỏi mua pháo, rồi trao đổi thống nhất mua 03 hộp hoa pháp nổ loại giàn 36 quả và 01 bánh pháo nổ với tổng giá tiền là 4.000.000đồng và hẹn đến khoảng 15 giờ cùng ngày sẽ giao dịch mua bán pháo ở khu vực huyện Yên Mỹ. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, D điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Honda City màu trắng gắn BKS 89A-037.55 mượn của anh trai ruột là Nguyễn Hữu T sinh năm 1971 trú tại thôn Đ, xã N, huyện K, tỉnh Hưng Yên mang theo 01 con dao tự chế để gần cần số phanh tay và 01 khẩu súng bắn đạn bi để ở cốp trước bên phụ, đi một mình đến khu vực ngã 5 Cầu Treo – Yên Mỹ. Khi đến nơi D nhắn tin, gọi điện qua lại từ số điện thoại 0973277283 tới số điện thoại 0936886046 của người bán pháo thì người này nói đang ở cây xăng Trung Hòa và bảo D đi xe xuống đó để giao dịch mua bán pháo. Khi đến khu vực đầu đường bê tông gần cây xăng Trung Hòa thì D gặp được người bán pháo, người này là nam giới khoảng 25 tuổi, cao khoảng 1,7 m , dáng người gầy, mặc ngoài áo khác đen, đeo khẩu trang (không rõ họ tên, năm sinh, địa chỉ), đi xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu cam không rõ BKS một mình. Rồi người nam thanh niên này ngồi lên ghế phụ bên lái xe ô tô BKS 89A – 307.55 do D điều khiển, D đưa cho người này số tiền 4.000.000đồng để trả tiền mua pháo như đã thảo thuận thì người này cầm lấy tiền cất vào trong người, đồng thời người này lấy từ trong người ra cho D 01 quả pháo nổ loại tự cuộn bằng giấy màu đỏ hình trụ tròn, D cầm để tại hốc gần cần số phanh tay, rồi người này chỉ đường cho D đi vào trong đường bê tông cạnh cây xăng Trung Hòa, khi đi vào khoảng 200m thì người này xuống xe bê một bao tải dứa để vào cốp sau xe của D rồi D điều khiển xe ô tô đi ra sát đường 376 rồi dừng xe lại, xuống mở cốp sau của xe rồi mở bao tải dứa trên để kiểm tra thì thấy bên trong có chứa 03 hộp pháo hoa nổ loại giàn 36 quả, trong đó có 02 hộp màu tím, 01 hộp màu đỏ và 01 bánh pháo nổ màu đỏ được cuộn tròn lại, quấn nilon màu trắng bên ngoài, D biết đây là pháo nổ và số lượng đúng như đã thỏa thuận trước đó nên kiểm tra xong D tự buộc bao tải dứa này lại. Sau đó, người thanh niên trên điều khiển xe mô tô bỏ đi, còn D nên xe điều khiển xe rẽ trái đi theo đường 376 hướng đi xã Tân Việt, huyện Yên Mỹ để đi về nhà mình. Khi đi được khoảng 01 km thì bị lực lượng công an kiểm tra, phát hiện, bắt giữ.

Vật chứng thu giữ gồm có: tại cốp sau của xe 01 bao tải dứa màu trắng, bên trong có chứa 03 vật hình hộp chữ nhật đều có kích thước (15,5x15,5x14,5)cm có chữ nước ngoài, trong đó có 02 vật vỏ màu tím, 01 vật vỏ màu đỏ và 01 vật hình trụ tròn có đường kính 22,5cm, cao 7,5cm, được quấn bên ngoài bằng nhiều lớp nilon màu trắng, bên trong gồm các vật hình trụ tròn màu đỏ (niêm phong ký hiệu M1); thu tại hốc gần cần số phanh tay 01 vật hình trụ tròn màu đỏ có đường kính 3,3cm, chiều cao 7,8cm, một đầu được gắn dây dẫn màu xám dài 9cm (niêm phong ký hiệu M2); thu tại gần cần số phanh tay của xe 01 con dao tự chế dài 36cm, lưỡi dao dài 29cm có đầu nhọn, vỏ ngoài bằng gỗ (niêm phong ký hiệu D1); thu tại cốp trước bên phụ của xe 01 vật màu đen, dạng giống súng có kích thước (16x10,5x2,5)cm bên trong có hộp tiếp đạn kích thước (8,5x3x1,5)cm (niêm phong ký hiệu S1); Tiến hành niêm phong xe ô tô nhãn hiệu Honda, gắn biển số 89A - 307.55; trong túi quần bên phải của D số tiền 18.300.000đ (Mười tám triệu ba trăm nghìn đồng); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J4 màu đen, bên trong lắp sim điện thoại số thuê bao 0973277283; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart màu xanh, bên trong lắp sim điện thoại số thuê bao 0904956093; Ngoài ra còn tạm giữ số tiền 723.400.000đ (Bảy trăm hai mươi ba triệu bốn trăm nghìn đồng) ở vị trí để bánh xe dự phòng của xe và 01 đăng ký xe ô tô kiểm soát 89A - 307.55.

Tại bản Kết luận giám định số 76 ngày 18/01/2023, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên, kết luận: Mẫu vật gồm các vật hình hộp chữ nhật bên trong gồm các lỗ tròn được kết dính với nhau thành giàn bằng dây dẫn trong niêm phong ký hiệu M1, có tổng khối lượng là 4,65 kg (Bốn phẩy sáu năm kilôgam) đều là pháo, loại pháo nổ (pháo hoa nổ); Mẫu vật gồm các vật hình trụ tròn được kết dính với nhau thành bánh bằng dây dẫn trong niêm phong ký hiệu M1, có tổng khối lượng là 1,75 kg (Một phẩy bảy năm kilôgam), đều là pháo, loại pháo nổ; Mẫu vật gồm vật hình trụ tròn trong niêm phong ký hiệu M2, có khối lượng là 0,056 kg (Không phẩy không năm sáu kilôgam) là pháo, loại pháo nổ.

Hoàn lại 3,15 kg (Ba phẩy một năm kilôgam) pháo, loại pháo nổ (Pháo hoa nổ), 1,70 kg (Một phẩy bảy không kilôgam) pháo, loại pháo nổ và 01 bao tải dứa màu trắng. Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Hưng Yên.

Tại bản kết luận giám định số 785/KL-KTHS ngày 28/02/2023 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an, kết luận:

- Mẫu vật gửi giám định là súng bắn bi, thuộc đồ chơi nguy hiểm bị cấm, không phải vũ khí quân dụng.

Đối với hành vi mang theo 01 khẩu súng bắn bi và 01 con dao tự chế. Ngày 08/03/2023, Công an huyện Yên Mỹ đã Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Hữu D. Hình phạt bổ sung là tịch thu tiêu hủy 01 khẩu súng bắn bi và 01 con dao tự chế dài.

Quá trình điều tra, đã làm rõ chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J4 màu đen, bên trong lắp sim điện thoại số thuê bao 0973277283 và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart màu xanh, bên trong lắp sim điện thoại số thuê bao 0904956093 đều là của D. D sử dụng điện thoại Samsung J4 màu đen, bên trong lắp sim điện thoại số thuê bao 0973277283 để liên lạc mua pháo, hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng Công an huyện Yên Mỹ; Số tiền 18.300.000đ (Mười tám triệu ba trăm nghìn đồng) thu của D là của vợ chồng D không liên quan đến hành vi phạm tội, hiện được tạm gửi vào tài khoản của Công an huyện Yên Mỹ tại Kho bạc Nhà nước huyện Yên Mỹ.

Chiếc xe ô tô nhãn hiệu Honda City màu trắng, gắn biển số 89A - 307.55, đăng ký xe cùng các giấy tờ liên quan và số tiền 723.400.000đ (Bảy trăm hai mươi ba triệu bốn trăm nghìn đồng) là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1971, trú tại thôn Đ, xã N, huyện K, tỉnh Hưng Yên. D mượn xe để đi mua pháo ông T không biết. Ngày 10/02/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Mỹ đã trả lại các tài sản trên cho ông Nguyễn Hữu T.

Đối với người đàn ông bán pháo cho D, quá trình xác minh không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ xử lý.

Quá trình điều tra D khai nhận mua số pháo trên hết số tiền là 4.000.000đồng, đã thanh toán cho người bán pháo. Mục đích mua về để sử dụng thì bị phát hiện.

Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 27/QĐ-VKS-YM ngày 17/03/2023 của Viện kiểm sát huyện Yên Mỹ đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu D về tội Tàng trữ hàng cấm theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ tham gia phiên toà có quan điểm xác định sự vắng mặt của một số người làm chứng tại phiên tòa không ảnh hưởng đến việc xét xử bị cáo nên đề nghị tiếp tục xét xử vụ án. Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố; Sau khi phân tích, đánh giá, tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu D phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.

Về hình phạt:

Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 4 Điều 191; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự; Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Xử phạt Nguyễn Hữu D từ 07 tháng tù đến 10 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm 02 tháng đến 01 năm 08 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho UBND xã N, huyện K, tỉnh Hưng Yên nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019.

Về hình phạt bổ sung: Xử phạt bị cáo từ 10.000.000đồng đến 15.000.000đồng sung ngân sách Nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu cho tiêu hủy: 4,85 kg pháo, loại pháo nổ trong niêm phong ký hiệu 76/KL-KTHS và 01 bao tải dứa màu trắng hoàn lại sau giám định.

Tịch thu cho bán đấu giá sung ngân sách Nhà nước đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J4 vỏ ngoài màu đen đã qua sử dụng. Đối với 01 sim bên trong điện thoại số thuê bao 0973277283 cho tiêu hủy.

Trả lại cho bị cáo D: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vinsmart Joy 2+ vỏ ngoài màu xanh đã qua sử dụng và sim bên trong số thuê bao 0904956093; Số tiền 18.300.000 đồng.

- Bị cáo D đã thành khẩn khai nhận, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo đều có ý kiến đề nghị tiếp tục xét xử vụ án vắng mặt những người tham gia tố tụng khác và xin được hưởng án treo để cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Mỹ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về thủ tục tố tụng tại phiên tòa: Bị cáo và đại diện VKSND huyện Yên Mỹ đều có đề nghị tiếp tục xét xử vụ án vắng mặt của người làm chứng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng: Những người làm chứng vắng mặt đều đã có đầy đủ lời khai và sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử bị cáo. Vì vậy, việc tiếp tục xét xử vụ án là hoàn toàn phù hợp với quy định pháp luật.

Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ 40 phút, ngày 17/01/2023 tại đoạn đường 376 thuộc địa phận thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Nguyễn Hữu D, sinh năm 1973 trú tại thôn Đ, xã N, huyện K, tỉnh Hưng Yên đang có hành vi tàng trữ trái phép 6,456 kg pháo nổ mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.

Do đó, Viện kiểm sát huyện Yên Mỹ truy tố bị cáo về tội “ Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, xâm phạm đến chính sách của Nhà nước về quản lý kinh tế, pháo nổ là một trong các loại hàng hóa Nhà nước nghiêm cấm tàng trữ, mua bán, vận chuyển. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ hàng cấm là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, cần phải có một hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cũng xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, đó là: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bố bị cáo là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huy chương; Bị cáo có đơn xin cải tạo tại địa phương, đơn có xác nhận của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục một thời gian cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đáp ứng được yêu cầu phòng ngừa tội phạm nói chung, cũng như thể hiện tính nhân đạo, sự khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo có nghề nghiệp thu nhập và có tài sản nên sẽ áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đối với 4,85 kg pháo, loại pháo nổ trong niêm phong ký hiệu 76/KL-KTHS và 01 bao tải dứa màu trắng hoàn lại sau giám định là vật nhà nước cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu cho tiêu hủy; Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J4 vỏ ngoài màu đen đã qua sử dụng có 01 sim bên trong số thuê bao 0973277283, xác định bị cáo có sử dụng vào việc phạm tội, liên lạc trao đổi mua pháo nên cần tịch thu cho bán đấu giá sung ngân sách Nhà nước, sim bên trong không còn giá trị sử dụng cho tiêu hủy; Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vinsmart Joy 2+ vỏ ngoài màu xanh đã qua sử dụng và sim bên trong số thuê bao 0904956093, số tiền 18.300.000 đồng đồng thu giữ của bị cáo, xác định đây là tài sản của bị cáo và gia đình bị cáo, không liên quan đến tội phạm nên sẽ trả cho bị cáo nhận lại.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 4 Điều 191; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 và khoản 2 Điều 65; khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự. Khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu D phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.

2. Xử phạt Nguyễn Hữu D 07 (bẩy) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện K, tỉnh Hưng Yên nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo số tiền 10.000.000đồng (Mười triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước. Số tiền phạt bị cáo phải nộp một lần.

3. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu cho tiêu hủy: 4,85 kg pháo, loại pháo nổ trong niêm phong ký hiệu 76/KL-KTHS và 01 bao tải dứa màu trắng hoàn lại sau giám định.

Tịch thu cho bán đấu giá sung ngân sách Nhà nước đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J4 vỏ ngoài màu đen đã qua sử dụng. Đối với 01 sim bên trong điện thoại số thuê bao 0973277283 cho tiêu hủy.

Trả lại cho bị cáo D: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vinsmart Joy 2+ vỏ ngoài màu xanh đã qua sử dụng và sim bên trong số thuê bao 0904956093; Số tiền 18.300.000 đồng.

( Tình trạng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Yên Mỹ và Chi cục thi hành án huyện Yên Mỹ ngày 23/03/2023).

4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Hữu D phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều có mặt tại phiên tòa, nên đều có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ