- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Văn S - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Trương Văn S phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:20/2023/HSST Ngày: 17/5/2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Hồng Phong;
2. Bà Lê Thị Hằng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy An – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Thi - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 09/2023/HSST ngày 20/02/2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2023/QĐXXST-HS ngày 19/4/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trƣơng Văn S, (tên gọi khác: không có); sinh năm 1982; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Khu phố 4, thị trấn T, huyện H, tỉnh Long An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 09/12; Nghề nghiệp: Tài xế; Cha: Trương Văn Đ, (đã chết); Mẹ: Trần Thị B; Vợ: Lê Kim L; Có 01 người con sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị tạm giữ từ ngày 23/6/2022 đến ngày 26/6/2022 chuyển tạm giam cho đến ngày 12/01/2023 được thay thế bằng biện pháp Bảo lĩnh. Bị bắt tạm giam lần 02 ngày 22/3/2023 cho đến nay (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Ông Nguyễn Văn S, sinh năm: 1985; Nơi cư trú: ấp 6, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt);
2. Ông Hoàng Hữu Đ, sinh năm: 1978; Nơi cư trú: 248 Tây Lạc, ấp An Chu, xã S, huyện B, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt);
3. Ngân hàng TMCP B- Chi nhánh Đồng Nai
Địa chỉ: 7/2 Phạm Văn Thuận, phường H, thành phố H, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện hợp pháp: ông Bùi Minh G- Phó giám đốc phụ trách;
Người đại diện theo ủy quyền: ông Lê Hoàng D- Chuyên viên (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ ngày 23/6/2022, Trương Văn S được một người phụ nữ không rõ nhân thân thuê đến chợ Tho Mo ở xã T, huyện H, tỉnh Long An nhận xe ô tô chở thuốc lá điếu nhập lậu về trạm thu phí cầu Cổ Chiên, tỉnh Trà Vinh với tiền công là 1.200.000đ, S đồng ý. Khoảng 08 giờ 20 phút cùng ngày, S đến chợ Tho Mo nhận xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI, số loại ACCENT, biển kiểm soát 60A – 680.29 và tiền công là 1.200.000đ. Sau đó, S điều khiển xe nói trên đi theo đường tỉnh 818 để ra Quốc lộ 1 đi về Trà Vinh. Đến khoảng 9 giờ cùng ngày, khi S điều khiển xe 60A – 680.29 đến Khu phố T, thị trấn T, huyện T thì bị lực lượng Công an huyện Thủ Thừa bắt quả tang. Qua kiểm tra xe ô tô 60A – 680.29 do S điều khiển chở 6000 bao thuốc lá điếu nhập lậu, trong đó 3000 bao nhãn hiệu JET, 3000 bao nhãn hiệu HERO. Cơ quan CSĐT Công an huyện Thủ Thừa tiến hành lập biên bản, tạm giữ tang vật, phương tiện liên quan. Tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Thủ Thừa, Trương Văn S đã khai nhận hành vi phạm tội.
Tại Bản cáo trạng số 12/CT-VKS ngày 17/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa đã truy tố bị cáo Trương Văn S về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 191 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trương Văn S về tội “Vận chuyển hàng cấm”
Trong phần luận tội đã phân tích đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 của Bộ luật hình sự xử phạt Trương Văn S từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù.
Về vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy 6.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu gồm 3.000 bao nhãn hiệu JET, 3.000 bao nhãn hiệu HERO. Tịch thu sung công quỹ: Tiền Việt Nam 1.200.000đ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 110 màu đen.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi của mình đúng như cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát đã nêu, bị cáo không tranh luận mà xin giảm hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Căn cứ vào điểm e khoản 2 Điều 260 Bộ luật tố tụng hình sự Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình điều tra, truy tố vụ án thì hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và kiểm sát viên tiến hành đúng theo các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu và các chứng cứ khác mà cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án nên đã đủ cơ sở khẳng định: Ngày 23/6/2022, Trương Văn S điều khiển xe ô tô biển số 60A – 680.29 chở 6.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu từ khu vực chợ Tho Mo, xã T, huyện H về tỉnh Trà Vinh với tiền công 1.200.000đ (đã nhận tiền công). Khoảng 09 giờ cùng ngày, khi đến Khu phố T, thị trấn T, huyện T thì bị lực lượng Công an bắt quả tang, tạm giữ phương tiện, tang vật liên quan. Hành vi vận chuyển 6.000 bao thuốc lá ngoại nhập lậu của bị cáo S đã đủ yếu tố cấu thành tội "Vận chuyển hàng cấm" theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 191 Bộ luật Hình sự. Do đó Bản cáo trạng số 12/CT-VKS ngày 17/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa đã truy tố bị cáo là có căn cứ pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nó không chỉ trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng cấm mà còn gây mất trật tự trị an ở địa phương nên cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi lượng hình cần xem xét cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ như: đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có ông bà nội được Hội đồng Bộ trưởng khen tặng Bảng vàng gia đình danh dự; chú của bị cáo tên Trương Văn Đi là liệt sĩ, cô của bị cáo tên Trương Thị Cẩm Hồng là thương binh loại A, gia đình bị cáo khó khăn được địa phương xác nhận.
Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an huyện Thủ Thừa có thu giữ: Tiền Việt Nam 1.200.000đ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 110 màu đen; 6.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu gồm 3.000 bao nhãn hiệu JET, 3.000 bao nhãn hiệu HERO. Xét thấy:
Đối với Tiền Việt Nam 1.200.000đ là tiền thu lợi bất chính của bị cáo S nên tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.
Đối với một điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 110 màu đen là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.
Đối với 6.000 bao thuốc lá cần tịch thu tiêu hủy;
Ngoài ra Cơ quan điều tra Công an huyện Thủ Thừa còn thu giữ một xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI, số loại ACCENT, biển kiểm soát 60A – 680.29. Qua điều tra xác minh, người đứng tên chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1985; HKTT: Ấp 6, xã V, huyện C, tỉnh Đồng Nai. Ngày 19/9/2019, ông S thế chấp xe ô tô này cho Ngân hàng Thương mại cổ phần B – Chi nhánh Đồng Nai (SeAbank chi nhánh Đồng Nai) để vay số tiền 375.000.000đ. Tài sản thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm. Đến ngày 29/4/2020, ông S cầm cố xe ô tô nói trên cho tiệm cầm đồ Bảo Tín ở số 248 Tây Lạc, ấp An Chu, xã Bắc S, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai với thời gian là 01 tháng lấy số tiền 180.000.000đ. Đến tháng 10/2020 do quá hạn cầm xe 05 tháng nên chủ tiệm cầm đồ Bảo Tín là ông Hoàng Hữu Đ đã thanh lý xe ô tô nói trên cho một người không rõ nhân thân với giá 140.000.000đ (không làm hợp đồng mua bán). Hiện xe ô tô 60A – 680.29 đã được trả lại cho Ngân hàng SeAbank Chi nhánh Đồng Nai.
Đối với ông Nguyễn Văn S và Ngân hàng SeABank Chi nhánh Đồng Nai không biết việc Trương Văn S sử dụng xe ô tô biển số 60A – 680.29 để vận chuyển hàng cấm. Cơ quan CSĐT Công an huyện Thủ Thừa không truy cứu trách nhiệm hình sự là có căn cứ.
Riêng người phụ nữ thuê Trương Văn S vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu do không rõ nhân thân, địa chỉ nên không thể xử lý đề nghị Cơ quan CSĐT Công an huyện Thủ Thừa tiếp tục điều tra, xác minh khi nào bắt được xử lý sau.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo: Trương Văn S phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trƣơng Văn S 05 (năm) năm tù. Thời gian tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam lần 02 là ngày 22/3/2023 và được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/6/2022 đến ngày 12/01/2023.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Trương Văn S 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 17/5/2023) để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.
Về vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước Tiền Việt Nam: 1.200.000đ (một triệu hai trăm nghìn đồng) hiện tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Thủ Thừa tạm gửi Kho bạc Nhà nước huyện Thủ Thừa theo giấy nộp tiền ngày 12/12/2022, nộp vào tài khoản số 3949.0.9005288.00000.
Tịch thu tiêu hủy 6.000 bao thuốc lá điếu gồm 3.000 bao nhãn hiệu JET, 3.000 bao nhãn hiệu HERO; tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 110 màu đen. (Tất cả vật chứng này do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 06/QĐ-VKS ngày 17/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa).
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự: Buộc bị cáo Trương Văn S phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.
Án xử sơ thẩm công khai, báo cho bị cáo biết có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 17/5/2023). Riêng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; - VKSND huyện Thủ Thừa; - Chi cục THADS huyện Thủ Thừa; - Công an huyện Thủ Thừa; - Sở tư pháp tỉnh Long An; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: Hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thanh Tuấn |