vanban.org

Bản án 20/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 14/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hồ Phúc H phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Hồ Phúc H 05 (năm) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 13/4/2022, nhưng được khấu thời giam tạm giữ từ 8 giờ 00 phút ngày 10/4/2022 đến 18 giờ 00 phút ngày 10/4/2022 là 01 (một) ngày. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Phúc H phạm tội “Cướp giật tài sản” - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hồ Phúc H phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 171 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÓC MÔN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2023/HSST
Ngày: 14/02/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Mỹ Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Văn Sơn

2. Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Như Oanh là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Bình, là Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 2 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 260/2022/TLST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hồ Phúc H, sinh năm 1995; Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 3/6A tổ 52, khu phố 4, phường T, Quận A, Tp. Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: không; Cha: Hồ Văn Đ, sinh năm 1960 (chết); Mẹ: Nguyễn Thị Lệ H, sinh năm: 1963; Bị cáo có 01 chị ruột, sinh năm 1989; Bị cáo có vợ: Nguyễn Thị Cẩm N, sinh năm 1994 và 01 con, sinh năm 2018; Nhân thân: Năm 2014 bị Tòa án nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án số 01/HSST ngày 03 tháng 01 năm 2014; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ 01 ngày (từ 8 giờ 00 phút ngày 10/4/2022 đến 18 giờ 00 phút ngày 10/4/2022 được trả từ do), sau đó từ ngày 13/4/2022 bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ, tạm giam công an huyện H cho đến nay; Bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.

Những người tham gia tố tụng:

- Bị hại: Bà Vũ Thị D, sinh năm 1984 (có mặt).

Địa chỉ: 169-171 đường TTN8, Khu phố 6, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Lệ H, sinh năm 1963 (có mặt).

Địa chỉ: 3/6A Khu phố 4, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền tiêu xài nên Hồ Phúc H nảy sinh ý định đi cướp giật tài sản của người khác. Khoảng 14 giờ 00 ngày 04/4/2022, H điều khiển xe máy hiệu Honda Wave màu đỏ đen, biển số 52Y3-6421 đi trên đường Phan Văn Hớn hướng từ Quận A về Hóc Môn để tìm người có tài sản sơ hở để cướp giật tài sản. Khi đến chợ Bà Điểm, H phát hiện chị Vũ Thị D điều khiển xe máy hiệu Honda Lead màu đỏ đang lưu thông cùng chiều, trên người chị D có đeo 01 túi xách màu nâu đen nên H điều khiển xe đi theo đến trước nhà số 138 Phan Văn Hớn, ấp 7, xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn thì H áp sát bên phải chị D, dùng tay trái giật đứt túi xách chị D đang đeo trên người làm chị D té ngã xuống đường bị gãy xương đùi rồi H tăng tốc độ tẩu thoát. Khi đến bãi đất trống trên đường XTT9, xã X, huyện H thì H làm rơi túi xách của chị D xuống đường. Đến ngày 06/4/2022 người nhà chị D đến Công an xã X trình báo vụ việc.

Qua truy xét, Công an đã mời H đến làm việc. Tại cơ quan điều tra, H thừa nhận hành vi phạm tội của mình như trên.

Bị hại D khai do ngày 04/4/2022 đến Ủy ban nhân dân xã X, huyện H để làm thủ tục giấy tờ gấp nên đã vội mang theo túi xách, bên trong có 01 nhẫn vàng 9999, trọng lượng 01 chỉ; 01 nhẫn vàng 18K, trọng lượng 0,8 chỉ đính đá màu xanh; 01 nhẫn vàng 18K, trọng lượng 1,2 chỉ đính nhiều đá nhỏ màu trắng, 01 điện thoại di động hiệu OPPO F11, Ram 6GB, bộ nhớ 64GB, 01 điện thoại di động hiệu Vivo (của chồng bà D đã chết nên không nhớ rõ thông tin máy), 01 ví da màu nâu, số tiền 15.000.000 đồng cùng một số giấy tờ cá nhân như giấy chứng minh nhân dân, giấy đăng ký xe, thẻ ATM, thẻ bảo hiểm y tế mang tên Vũ Thị D và Lê Văn Chanh (chồng bà D)

Tại Bản kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H số 119/KL-HĐĐGTS ngày 11/8/2022 kết luận:

+ 01 nhẫn bằng kim loại vàng 9999, trọng lượng đúng 01 chỉ: 5.450.000 đồng.

+ 01 nhẫn bằng kim loại vàng 18K, trọng lượng 0,7 chỉ; đá màu xanh không đầy đủ thông tin nên Hội đồng không có cơ sở định giá: 2.774.030 đồng

+ 01 nhẫn bằng kim loại vàng 18K, trọng lượng 1,3 chỉ; nhiều đá nhỏ màu trắng không đầy đủ thông tin nên Hội đồng không có cơ sở định giá: 5.151.770 đồng.

+ 01 điện thoại di động hiệu OPPO F11, Ram 6GB, bộ nhớ 64GB: 2.000.000 đồng

+ 01 điện thoại di động hiệu Vivo, 01 túi xách bị hại không cung cấp được nhãn hiệu và 01 ví da màu nâu, bị hại không cung cấp được nhãn hiệu: không đầy đủ thông tin nên Hội đồng không có cơ sở định giá

Tổng số tiền là 15.375.800 đồng (BL 75-79)

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 658/TgT.22 ngày 17/8/2022 của Trung tâm pháp y TP.HCM kết luận thương tích của Vũ Thị D:

- Chấn thương vùng đùi phải gây gãy kín 1/3 giữa xương đùi đã được điều trị xuyên đinh kéo tạ đùi sau đó chuyển phẫu thuật kết hợp xương bằng đinh nội tủy, đặt dẫn lưu, hiện còn:

+ Một sẹo mổ vùng mông phải kích thước 7,4x0,3cm

+ Một sẹo mổ vùng mặt ngoài đùi phải kích thước 15,2x0,3cm

+ Một sẹo dẫn lưu kích thước 0,9x0,2cm

+ Hai sẹo xuyên đinh vùng cổ chân phải kích thước 0,6x0,3cm mỗi vết

+ Hình ảnh gãy xương có dụng cụ kết hợp trên phim chụp Xquang

+ Hình ảnh tụ dịch quanh 1/3 giữa xương đùi trên siêu âm

+ Tình trạng ổn định.

Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 28%. Chấn thương do vật tày gây ra, Chấn thương không gây nguy hiểm tính mạng. Thông tư 22/2019/TT-BYT không quy định vè thẩm mỹ với chấn thương trên và cố tật (BL 70-73).

Về vật chứng:

- 01 quần lửng màu xám đen, 01 áo khoác nam dài tay màu xanh rêu, 01 mũ bảo hiểm màu đỏ đen: là trang phục H mặc khi thực hiện hành vi phạm tội.

- 01 xe máy hiệu Honda Wave S, biển số 52Y3-6421, có số khung RLHHC09066YY232173, số máy: không có. Qua xác minh xe mang biển số trên có số khung: 9066Y-232173, số máy: C09E-6232221 do ông Hồ Văn Đ (ba của H) đứng tên chủ sở hữu, năm 2014 ông Đức chết nên xe do bà Nguyễn Thị Lệ H (mẹ của H) quản lý, sử dụng, bà H cho H mượn, không biết H sử dụng xe vào việc phạm tội.

- Đối với túi xách của bị hại, Cơ quan điều tra không thu hồi được.

Về phần dân sự: Bị hại yêu cầu H bồi thường số tiền 200.000.000 đồng cho chi phí điều trị thương tích và thiệt hại về tài sản, tuy nhiên H chưa khắc phục bồi thường cho bị hại.

Tại bản cáo trạng số 241/CT-VKS-HS ngày 21 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Hồ Phúc H về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d, e khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh sau khi nêu lại nội dung vụ án, phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, những tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

- Áp dụng điểm d, e khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hồ Phúc H từ 05 (năm) năm đến 06 (sáu) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”.

- Về xử lý vật chứng của vụ án:

+ Đối với 01 quần lửng màu xám đen, 01 áo khoác nam dài tay màu xanh rêu, 01 mũ bảo hiểm màu đỏ đen là trang phục bị cáo mặc khi thực hiện hành vi phạm tội, đề nghị tịch thu tiêu hủy.

+ Đối với 01 xe máy hiệu Honda Wave S, biển số 52Y3-6421, có số khung RLHHC09066YY232173, số máy: không có. Qua xác minh xe mang biển số trên có số khung: 9066Y-232173, số máy: C09E-6232221 do ông Hồ Văn Đức (ba của H) đứng tên chủ sở hữu, năm 2014 ông Đức chết nên xe do bà Nguyễn Thị Lệ H (mẹ của H) quản lý, sử dụng, bà H cho H mượn, không biết H sử dụng xe vào việc phạm tội nên đề nghị trả lại cho bà Nguyễn Thị Lệ H quản lý, sử dụng.

- Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Tại phiên tòa, bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đồng, trong đó gồm tài sản bị cướp giật là 30.375.800 đồng và chi phí điều trị thương tật là 69.624.200 đồng. Bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

Bị cáo Hồ Phúc H khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu và xin được hưởng mức án nhẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với bản kết luận điều tra của Công an huyện H, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn Hội đồng xét xử nhận thấy đã có đủ cơ sở pháp lý để kết luận:

Khoảng 14 giờ 00 ngày 04/4/2022, tại trước nhà số 138 Phan Văn Hớn, ấp 7, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Phúc H có hành vi sử dụng xe gắn máy là nguồn nguy hiểm cao độ làm phương tiện cướp giật tài sản trị giá 30.375.800 đồng, gồm: 01 nhẫn bằng kim loại vàng 9999, trọng lượng đúng 01 chỉ: 5.450.000 đồng; 01 nhẫn bằng kim loại vàng 18K, trọng lượng 0,7 chỉ, đá màu xanh không đầy đủ thông tin nên Hội đồng không có cơ sở định giá: 2.774.030 đồng; 01 nhẫn bằng kim loại vàng 18K, trọng lượng 1,3 chỉ, nhiều đá nhỏ màu trắng không đầy đủ thông tin nên Hội đồng không có cơ sở định giá: 5.151.770 đồng; 01 điện thoại di động hiệu OPPO F11, Ram 6GB, bộ nhớ 64GB: 2.000.000 đồng (theo kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H số 119/KL-HĐĐGTS ngày 11/8/2022) và số tiền mặt 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng trong túi xách của bị hại bà Vũ Thị D và gây thương tích 28% cho bà D (theo kết luận Giám định pháp y về thương tích số 658/TgT.22 ngày 17/8/2022 của Trung tâm pháp y Thành phố Hồ Chí Minh).

Hành vi nêu trên của bị cáo Hồ Phúc H đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” thuộc trường hợp “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” và “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%” được quy định tại điểm d, e khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố để xét xử bị cáo theo điều luật đã viện dẫn nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản và sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương, gây tâm lý hoang mang cho quần chúng nhân dân. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết được việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động nên bị cáo đã cố ý thực hiện. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất mức độ phạm tội mà bị cáo đã gây ra mới có tác dụng giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo là phù hợp

Xét về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, năm 2014 bị Tòa án nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án số 01/HSST ngày 03 tháng 01 năm 2014 nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.

Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa, bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng, trong đó gồm tài sản bị cướp giật là 30.375.800 đồng và chi phí điều trị thương tật là 69.624.200 đồng. Bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 quần lửng màu xám đen, 01 áo khoác nam dài tay màu xanh rêu, 01 mũ bảo hiểm màu đỏ đen là trang phục H mặc khi thực hiện hành vi phạm tội và không còn giá trị sử dụng.

- Trả lại cho bà Nguyễn Thị Lệ H: 01 xe máy hiệu Honda Wave S, biển số 52Y3-6421, có số khung RLHHC09066YY232173, số máy: không có.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng điểm d, e khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự;

- Áp dụng Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 290; Điều 292; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

1. Tuyên bố bị cáo Hồ Phúc H phạm tội “Cướp giật tài sản”.

2. Xử phạt bị cáo Hồ Phúc H 05 (năm) năm 09 (chín) tháng tù.

Thời hạn tù được tính kể từ ngày 13/4/2022, nhưng được khấu thời giam tạm giữ từ 8 giờ 00 phút ngày 10/4/2022 đến 18 giờ 00 phút ngày 10/4/2022 là 01 (một) ngày.

3. Tạm giam bị cáo Hồ Phúc H 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

4. Buộc bị cáo Hồ Phúc H bồi thường cho bị hại Vũ Thị D số tiền 100.000 (một trăm triệu) đồng, thi hành ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bị hại Vũ Thị D, nếu bị cáo Hồ Phúc H chưa thi hành khoản tiền bồi thường thiệt hại nêu trên thì hàng tháng bị cáo còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

5. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 quần lửng màu xám đen, 01 áo khoác nam dài tay màu xanh rêu, 01 mũ bảo hiểm màu đỏ đen là trang phục H mặc khi thực hiện hành vi phạm tội và không còn giá trị sử dụng.

- Trả lại cho bà Nguyễn Thị Lệ H: 01 xe máy hiệu Honda Wave S, biển số 52Y3-6421, có số khung RLHHC09066YY232173, số máy: không có.

(Vật chứng của vụ án hiện đang được lưu giữ tại kho vật chứng thuộc Chi cục thi hành án dân sự huyện H theo Quyết định chuyển vật chứng số 190/QĐ-VKS-HS ngày 14 tháng 11 năm 2022 và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 22 tháng 11 năm 2022).

6. Án phí: Bị cáo Hồ Phúc H phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 5.000.000 (Năm triệu) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

7. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ