vanban.org

Bản án 20/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 29/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phí Thanh N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Phí Thanh N 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 22/12/2022. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phí Thanh N pham tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phí Thanh N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ UÔNG BÍ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG NINH
Bản án số: 20/2023/HS-ST
Ngày 29/3/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ - TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hải.

Các Hội thẩm Tòa án nhân dân:

1. Ông Thái Quang Định.

2. Bà Hoàng Thị Thanh Huyền.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Thắng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố U, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố U tham gia phiên tòa: Ông Vũ Minh Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 3 năm 2023, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố U, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2023/TLST- HS ngày 23 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2023/QĐXXST- HS ngày 14 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phí Thanh N, sinh ngày 27 tháng 4 năm 1993; tại thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; Nơi cư trú: tổ 10A, khu 7, phường B, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: N; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt N; con ông Phí Văn L và bà Chu Thị N; có vợ là Hoàng Thị M và có 01 con sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt quả tang ngày 22/12/2022 hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

1. Chị Hoàng Thị Y, sinh năm 1995; nơi cư trú: tổ 1, khu P, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt tại phiên tòa, không có lý do.

2. Chị Trương Thị T, sinh năm 1997; nơi ĐKHKTT: thôn T, xã N, huyện V, tỉnh Hà Giang; chỗ ở: tổ 8, khu Lạc Thanh, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt tại phiên tòa, không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 17 giờ 25 phút ngày 22/12/2022, tại khu vực tổ 3, khu 1, phường Y, thành phố U, Công an thành phố U kiểm tra bắt quả tang Phí Thanh N có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. T giữ tại túi bên hông trái áo khoác ngoài của N 01 túi nilon trong suốt, kích thước (2,5x03)cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, N khai đây là ma tuý “đá” N vừa mua để sử dụng. Ngoài ra còn tạm giữ của N 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE XS, vỏ màu đen, mặt lưng máy bị nứt vỡ cùng sim số: 0789.861.993 và số tiền 475.000 đồng.

Bản Kết luận giám định số 2090/KL-KTHS ngày 28/12/2022 của Phòng kỹ Thuật hình sự – Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: mẫu vật T giữ của Phí Thanh N gửi giám định là ma tuý; Loại: Methamphetamine; khối lượng là 0,204gam.

Tại Cơ quan điều tra, Phí Thanh N khai nhận: Do có nhu cầu sử dụng ma túy. Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 22/12/2022, N một mình bắt xe khách đi từ thành phố U đến khu vực cây xăng Yên Dưỡng Tộc xã Hồng Thái Đông, thị xã Đông Triều, gặp một người nam giới (không rõ lai lịch, địa chỉ) và mua của người này 01 gói ma túy loại “đá” với giá 500.000 đồng. Xác định đúng là ma túy “đá”, N cất ma túy vào túi bên hông trái, áo khoác N đang mặc rồi bắt xe khách về nhà. Khi đi đến khu vực gần chợ Y Tộc tổ 3, khu 1, phường Y, thành phố U, N xuống xe chờ bạn đón thì bị Công an kiểm tra, bắt quả tang, T giữ gói ma túy cùng các đồ vật, tài sản mang theo.

Người làm chứng chị Hoàng Thị Yvà chị Trương Thị T đều có lời khai trong quá trình điều tra phù hợp với nội dung vụ án nêu trên.

Tại Cáo trạng số 09/CT - VKSUB ngày 22/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố U đã truy tố bị cáo Phí Thanh N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố U giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với Phí Thanh N như nội dung bản Cáo trạng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phí Thanh N từ 12 đến 15 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 22/12/2022.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch T tiêu hủy: Mẫu vật hoàn lại sau giám định trong phong bì niêm phong số 2090/KL-KTHS.

Trả lại bị cáo số tiền 475.000 đồng.

Bị cáo không tranh luận với lời luận tội và quan điểm giải quyết vụ án của Đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố U, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố U, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về việc định tội đối với bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, bị cáo thừa nhận Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan, bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; lời khai của bị cáo còn phù hợp với lời khai của những người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng T giữ của bị cáo, kết luận giám định ma túy và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 17 giờ 25 phút ngày 22/12/2022 tại khu vực chợ Y Tộc tổ 3, khu 1, phường Y, thành phố U, Phí Thanh N bị bắt quả tang khi có hành vi tàng trữ trái phép 0,204gam ma tuý loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý, do vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cầu thành thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố U truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật nên được chấp nhận.

Về hình phạt:

Hình phạt chính:

Về tính chất, mức độ phạm tội bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đảm bảo tính giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Từ những đánh giá, phân tích nêu trên, căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Để tăng cường biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm nói chung cũng như để giáo dục, cải tạo riêng đối với bị cáo, cần có một hình phạt tương xứng đối với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để bị cáo rèn luyện, giáo dục và sửa chữa lỗi lầm của bản thân để trở thành công dân tốt có ý thức chấp hành pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ (năm triệu đồng) đến 500.000.000đ (năm trăm triệu đồng). Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo phạm tội không vì mục đích lợi nhuận nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Tịch T tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 2090/KL-KTHS ngày 28/12/2022 của Phòng kỹ Tật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, bên trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định.

Đối với số tiền 575.000đồng T giữ của bị cáo là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần tuyên trả lại cho bị cáo.

01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS vỏ màu đen, mặt lưng bị nứt vỡ cùng sim số 0789.861.993. Quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho gia đình bị can N nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông bán ma tuý cho N tại thị xã Đông Triều, do không xác định được nên không có căn cứ xử lý.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Phí Thanh N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Phí Thanh N 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 22/12/2022.

2. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch T tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 2090/KL-KTHS ngày 28/12/2022 của Phòng kỹ Tật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, bên trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định.

(Tình trạng và đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng hồi 16 giờ 00 phút, ngày 07 tháng 3 năm 2023 giữa Công an thành phố U và Chi cục thi hành án dân sự thành phố U, tỉnh Quảng Ninh).

Trả lại bị cáo Phí Thanh N số tiền 475.000đồng (bốn trăm bảy mươi năm nghìn đồng)

(Tình trạng và đặc điểm vật chứng như biên bản bàn giao, tiếp nhận tài sản để bảo quản ngày 07 tháng 3 năm 2023 giữa Công an thành phố U và Kho bạc nhà nước thành phố U).

3. Về án phí:

Căn cứ: Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Danh mục án phí, lệ phí Toà án của Nghị quyết số 326/2016/UBNTQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức T, miễn, giảm, T, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Phí Thanh N phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.

4. Quyền kháng cáo:

Căn cứ: Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ