vanban.org

Bản án 20/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi Tuyên án 02/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Trần Thế A phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Trần Thế A 02 (hai) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam là ngày 26/10/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Trần Thế A phạm tội “Trộm cắp tài sản”. - phạm tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai (điều 173 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2023/HS-ST
Ngày: 02-3-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Nam

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hoàng Minh Tân

2. Ông Bùi Vạn Huynh

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 02 và ngày 02 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2023/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Thế A (tên gọi khác: Không), sinh ngày 29 tháng 7 năm 1985 tại tỉnh Quảng Ngãi. Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Quang T và bà Bùi Thị Thu B; có vợ tên Nguyễn Thị Hà và 02 đứa con (con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh 2018); tiền sự: Không.

- Tiền án: Ngày 09/4/2021, Trần Thế A bị Tòa án nhân dân quận T, thành phố Đà Nẵng xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 41/2021/HS-ST. Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/6/2022.

- Nhân thân:

+ Ngày 25/8/2009, bị Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 1542/2009/HSPT.

+ Ngày 05/01/2012, bị Tòa án nhân dân quận LT, thành phố Đà Nẵng xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 01/2012/HSST.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/10/2022 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ngãi; có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bà Võ Thị Thanh Q, sinh năm 1979;

Địa chỉ: Tổ 4, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; có đơn xin xử vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

1. Ông Nguyễn Tấn Quang T, sinh năm 1998; địa chỉ: Số 27C Điện Biên Phủ, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam; vắng mặt.

2. Ông Trần Quang T, sinh 1960, địa chỉ: Tổ dân phố T, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 21/10/2022, Trần Thế A đón xe buýt từ phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi đến Bến xe tỉnh Quảng Ngãi, sau đó thuê xe mô tô biển kiểm soát số 76D1 – 094.48 tại nhà nghỉ Duy Tân ở tổ 05, phường N, thành phố Q đến Trung tâm Y tế thành phố Q, địa chỉ: Số 222 đường N, phường N, thành phố Q khám sức khỏe.

Khi đến Trung tâm Y tế thành phố Q, Trần Thế A dựng xe mô tô 76D1 – 094.48 ở vỉa hè ngoài cổng rồi đi bộ vào trong và lên tầng 02. Khi đi ngang qua phòng làm việc thấy không có người, Trần Thế A nhìn thấy 01 (một) chìa khóa từ xe mô tô bỏ trên giường trong phòng làm việc. Lúc này, Trần Thế A nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô nên đã vào phòng, lấy chìa khóa, xuống nhà xe bấm chìa khóa thì phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Honda SH Mode, màu đỏ - đen, BKS 76B1 - 333.08 báo tín hiệu nên Trần Thế A đến mở khóa xe rồi điều khiển xe mô tô trên ra khỏi Trung tâm Y tế và đi đến đường Phạm Văn Đồng, thành phố Quảng Ngãi thì dừng lại và dựng xe trên vỉa hè. Sau đó, Trần Thế A đi bộ quay lại chỗ để xe mô tô 76D1-094.48 lấy xe đem trả lại cho nhà nghỉ Duy Tân. Trần Thế A đi bộ đến đường Phạm Văn Đồng điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 76B1-333.08 đi theo hướng Bắc – Nam trên Quốc lộ 1A.

Khi đến thị trấn L, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi, Trần Thế A truy cập vào Google tìm kiếm hội mua, bán xe máy cũ Quảng Nam; khi tìm thấy số điện thoại 0817252942 của Nguyễn Tấn Quang T có giao dịch mua, bán xe máy cũ nên đã liên hệ trao đổi về việc mua bán xe và hẹn giao dịch tại thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Trần Thế A điều khiển xe mô tô BKS 76B1-333.08 đến thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam gặp Nguyễn Tấn Quang T và bán xe mô tô nêu trên cho T với giá 9.000.000 đồng (chín triệu đồng).

Ngày 26/10/2022, Trần Thế A đến Công an phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp xe mô tô nhãn hiệu Honda SH Mode, màu đỏ - đen, biển kiểm soát 76B1-333.08 vào ngày 21/10/2022 tại Trung tâm Y tế thành phố Q.

Theo bản Kết luận định giá tài sản số 78/KL-HĐĐGTS ngày 02/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Quảng Ngãi đã kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu Honda SH Mode, màu đỏ - đen, biển kiểm soát 76B1 - 333.08, số máy JF51E - 0864151, số khung RLHJF5137GZ237471, giá trị 43.000.000 đồng (bốn mươi ba triệu đồng).

Bản cáo trạng số 32/CT-VKS ngày 12/01/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi đã truy tố bị cáo Trần Thế A về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Trần Thế A mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Bà Võ Thị Thanh Q đã nhận lại xe mô tô nhãn hiệu Honda SH Mode, màu đỏ - đen, biển kiểm soát 76B1 - 333.08 và không có yêu cầu gì thêm nên đề nghị không xem xét.

- Ông Nguyễn Tấn Quang T đã nhận đã nhận lại số tiền 9.000.000 đồng tiền mua xe mô tô BKS 76B1-333.08 từ ông Trần Quang T là cha của bị cáo và không có yêu cầu nên đề nghị không xem xét.

- Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) đôi giày màu nâu, đã qua sử dụng; 01 (một) áo sơ mi dài tay, màu trắng, họa tiết tím, có chữ Viettien và 01 (một) quần tây dài, màu đen và 01 (một) biển kiểm soát xe mô tô 92H1 - 218.38.

- 01 (một) USB chứa dữ liệu đoạn video ghi lại hành vi trộm cắp xe mô tô nhãn hiệu SH Mode màu đỏ - đen, biển kiểm soát 76B1-333.08 của Trần Thế A vào ngày 21/10/2022, tại Trung tâm Y tế thành phố Q. Là tài liệu chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên được lưu kèm theo hồ sơ vụ án.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Trần Thế A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật, nguy hiểm cho xã hội; bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Quảng Ngãi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Tấn Quang T vắng mặt. Xét thấy, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến quá trình xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Trần Thế A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Ngày 21/10/2022, Trần Thế A đã lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH Mode, BKS 76B1 - 333.08 của bà Võ Thị Thanh Q giá trị 43.000.000 đồng. Sau khi lấy được xe bị cáo điều khiển đến thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam bán cho anh Nguyễn Tấn Quang T với giá 9.000.000 đồng (chín triệu đồng). Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Trần Thế A là người có đủ năng lực nhận thức và điều kiển hành vi, có trình độ học vấn, có sức khỏe nhưng lười lao động, thích có tiền tiêu xài cá nhân nhưng không phải do sức lao động của mình làm ra nên đã phạm tội. Bị cáo đã nhiều lần bị kết án về tội trộm cắp tài sản, lẽ ra bị cáo phải tu dưỡng, sửa chữa sai lầm để trở thành người có ích cho gia đình và xã hội nhưng ngược lại vẫn tiếp tục phạm tội; vừa chấp hành xong hình phạt 01 năm 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” vào ngày 18/6/2022 trở về địa phương đến ngày 21/10/2022, bị cáo tiếp tục chiếm đoạt chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH Mode, BKS 76B1 - 333.08 của bà Võ Thị Thanh Q giá trị 43.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, gây tâm lý hoang mang, bất bình trong quần chúng nhân dân nên cần phải được xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung đối với người khác.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Ngày 09/04/2021, Trần Thế A bị Tòa án nhân dân quận T, thành phố Đà Nẵng tuyên phạt 01 năm 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích nhưng tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, tác động gia đình bồi thường số tiền 9.000.000 đồng để khắc phục hậu quả; đã tự nguyện đầu thú, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, cha bị cáo được tặng kỷ niệm chương vì sự nghiệp giao thông vận tải, mẹ bị cáo được tặng huy chương vì sự nghiệp giáo dục nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về trách nhiệm dân sự:

- Bà Võ Thị Thanh Q đã nhận lại đủ số tiền bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì thêm.

- Ông Nguyễn Tấn Quang T đã nhận đã nhận lại số tiền 9.000.000 đồngtiền mua xe mô tô bKS 76B1-333.08 từ ông Trần Quang T là cha của bị cáo nên không có yêu cầu gì thêm.

Về xử lý vật chứng: Vật chứng trong vụ án gồm: 01 (một) đôi giày màu nâu, đã qua sử dụng; 01 (một) áo sơ mi dài tay, màu trắng, họa tiết tím, có chữ Viettien và 01 (một) quần tây dài, màu đen và 01 (một) biển kiểm soát xe mô tô 92H1 - 218.38. Xét thấy đôi dày, áo sơ mi, quần tây là đồ cá nhân của bị cáo, tại phiên tòa bị cáo trình bày những đồ đạc trên đã cũ, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với biển số xe 92H1 - 218.38 không còn sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 (một) USB chứa dữ liệu đoạn video ghi lại hành vi trộm cắp xe mô tô nhãn hiệu SH Mode màu đỏ - đen, biển kiểm soát 76B1-333.08 của Trần Thế A vào ngày 21/10/2022, tại Trung tâm Y tế thành phố Q. Là tài liệu chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên được lưu kèm theo hồ sơ vụ án.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Bản án theo quy định Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Trần Thế A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Thế A 02 (hai) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam là ngày 26/10/2022.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015;

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) đôi giày màu nâu, đã qua sử dụng; 01 (một) áo sơ mi dài tay, màu trắng, họa tiết tím, có chữ Viettien và 01 (một) quần tây dài, màu đen và 01 (một) biển kiểm soát xe mô tô 92H1 - 218.38.

- Lưu hồ sơ vụ án 01 (một) USB chứa dữ liệu đoạn video ghi lại hành vi trộm cắp xe mô tô nhãn hiệu SH Mode màu đỏ - đen, biển kiểm soát 76B1-333.08 của Trần Thế A vào ngày 21/10/2022, tại Trung tâm Y tế thành phố Q.

Các vật chứng trên có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/02/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Quảng Ngãi và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi.

3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Trần Thế A phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ