vanban.org

Bản án 20/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 12/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Hồng Q phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Hồng Q 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/9/2022. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao bằng kim loại, dài 29cm, lưỡi dao dài 15,5cm, cán dao bằng gỗ dài 13,5cm; 05 (năm) đoạn dây điện có chiều cao lần lượt là: 61cm, 46,8cm, 71cm, 48cm và 49,5cm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Hồng Q phạm tội: Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Hồng Q phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 135 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẨM PHẢ
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2023/HS-ST
Ngày: 12-01-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ - TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thu Đông

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hiền và bà Phạm Thị Minh Huyền

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Kim Phượng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố C, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thái Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố C, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 216/2022/TLST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 228/2022/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:

Phạm Hồng Q - tên gọi khác: không; sinh ngày xx tháng x năm xxxx, tại huyện H, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: tổ B, khu B, phường C, thành phố C; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn C và bà Ngô Thị H; vợ, con: chưa có; tiền án: không.

Tiền sự: ngày 16/7/2022, bị Công an phường Cẩm T, thành phố C xử phạt vi phạm hành chính, về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

Nhân thân: ngày 12/9/2013, bị Tòa án nhân dân thành phố C xử phạt 09 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” (phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi); ngày 28/02/2014, bị Tòa án nhân dân thành phố C xử phạt 07 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” (phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi); ngày 27/12/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị bắt ngày 21/9/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.

- Bị hại: Ủy ban nhân dân phường Cẩm T, thành phố C

Địa chỉ: phường Cẩm T, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh

Người đại diện theo ủy quyền: bà Nguyễn Thị H - chức vụ: phó Chủ tịch UBND phường Cẩm T, thành phố C. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người tham gia tố tụng khác:

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: chị Quan Thị T, sinh năm xxxx; nơi thường trú: thôn D, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; nơi ở hiện tại: tổ S, khu T, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Hồng Q bị Công an phường Cẩm T, thành phố C ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo Quyết định số 146 ngày 16/7/2022. Từ ngày 02 đến 07/8/2022, Q tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Q phát hiện thấy hệ thống dây điện chiếu sáng đường dân sinh tại các khu phố 5A, 5B, 6A, 6B và 7A của Ủy ban nhân dân phường Cẩm T, thành phố C không có người trông coi, ít người qua lại nên nảy sinh ý định cắt trộm, đốt thu hồi dây đồng bán lấy tiền ăn tiêu. Để thực hiện hành vi, Q cầm theo 01 con dao bằng kim loại, dài 29cm, cán gỗ, có 01 lưỡi sắc rồi trèo lên cột điện cắt dây. Xong, Q mang đến bãi đất trống thuộc tổ 5, khu 5B, phường Cẩm T cất giấu và đốt thu hồi dây đồng, sau đó đem bán cho chị Quan Thị T (người thu mua sắt vụn; cư trú ở tổ 6, khu Thủy Sơn, phường Cẩm Sơn, thành phố C), cụ thể như sau: khoảng 23 giờ 45 phút ngày 02/8/2022, Q cắt trộm được 101,4m dây điện trị giá 912.600 đồng tại khu phố 6B, phường Cẩm T, rồi mang đến bãi đất trống cất giấu. Tiếp đến, khoảng 01 giờ ngày 03/8/2022, Q cắt trộm được 105,6m dây điện trị giá 950.400 đồng tại khu phố 5A, phường Cẩm T, rồi mang đến bãi đất trống, đốt cùng số dây điện cất giấu trước đó để lấy dây đồng, sau đó bán cho chị T được 230.000 đồng. Sáng ngày 03/8/2022, Q cắt trộm được 114,3m dây điện trị giá 1.028.700 đồng tại khu phố 7A, phường Cẩm T, rồi mang đến bãi đất trống đốt lấy dây đồng, bán cho chị T được 250.000 đồng. Sau đó, sáng ngày 05/8/2022, Q cắt trộm được 42,3m dây điện trị giá 380.700 đồng tại khu phố khu 6A, phường Cẩm T rồi mang đến bãi đất trống cất giấu. Rạng sáng ngày 07/8/2022, Q tiếp tục cắt trộm được 133,9m dây điện trị giá 1.205.100 đồng tại khu phố 5B, phường Cẩm T rồi mang đến bãi đất trống, đốt cùng số dây điện cất giấu trước đó lấy dây đồng, đem bán cho chị T được 350.000 đồng.

Tại kết luận định giá số 59/KL-ĐG ngày 22/9/2022 của Hội đồng định giá thường xuyên định giá trong tố tụng hình sự thành phố C, kết luận số dây điện Q trộm cắp tại các khu phố 5A, 5B, 6A, 6B và 7A, phường Cẩm T có tổng chiều dài 497,5m, tổng trị giá 4.477.500 đồng.

Sau khi phát hiện bị mất trộm tài sản, các ông, bà trưởng, phó các khu phố 5A, 5B, 6A, 6B và 7A, đã báo cáo sự việc lên Ủy ban nhân dân phường Cẩm T, cơ quan Công an.

Qua rà soát, Công an phường Cẩm T đã triệu tập Q đến làm việc. Q khai nhận hành vi phạm tội như trên và giao nộp 01 con dao dùng để cắt trộm dây điện.

Quá trình điều tra, Phạm Hồng Q thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Ngoài ra Q còn khai, khi bán dây đồng thì không nói nguồn gốc cho người mua biết, số tiền bán được đã tiêu xài cá nhân hết.

Đại diện bị hại trong quá trình điều tra và tại đơn xin xét xử vắng mặt có lời khai, quan điểm thể hiện: Ủy ban nhân dân phường Cẩm T trích ngân sách địa phương để lắp đặt đường điện chiếu sáng khu dân sinh tại các khu phố 5A, 5B, 6A, 6B và 7A của phường Cẩm T. Sau khi được tin các đường điện chiếu sáng trên bị mất, chính quyền địa phương đã trình báo cơ quan Công an. Sau đó Ủy ban được biết Q là người đã trộm cắp tài sản trên. Về tài sản bị trộm cắp là số dây điện đã bị Q đốt để lấy lõi đồng, bị hại yêu cầu được nhận lại dây đồng, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì; đối với 05 đoạn dây điện đã bị cắt nhỏ không còn giá trị sử dụng nên không nhận lại; về phần hình phạt đề nghị xử lý bị cáo theo pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Quan Thị T trong quá trình điều tra và tại đơn xin xử án vắng mặt có lời khai, quan điểm thể hiện: trong khoảng thời gian từ ngày 03/8 đến ngày 07/8/2022, chị có mua của một người thanh niên (sau này mới biết tên là Phạm Hồng Q) khoảng hơn 6kg dây đồng đốt, với số tiền là 830.000 đồng. Khi bán tài sản trên, Q không nói cho chị biết là do trộm cắp mà có. Chị không yêu cầu Q trả lại số tiền 830.000 đồng đã trả cho Q, chị không có yêu cầu gì khác.

Tại bản Cáo trạng số 225/CT-VKSCP ngày 30/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố C, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Phạm Hồng Q về tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Phạm Hồng Q thành khẩn khai báo, thừa nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp dây điện chiếu sáng đường dân sinh tại các khu phố 5A, 5B, 6A, 6B và 7A, của phường Cẩm T như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã viện dẫn và truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Hồng Q từ 12 tháng đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/9/2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố Tụng hình sự: tịch thu tiêu huỷ 01 con dao bằng kim loại, 05 đoạn dây điện; trả lại bị hại 01 túi nilon bên trong chứa các sợi dây bằng kim loại được liên kết với nhau bằng lõi dây điện.

Bị cáo không tranh luận, tại lời nói sau cùng bị cáo không trình bày gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố, xét xử đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố Tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn nhận tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Biên bản và bản ảnh khám nghiệm hiện trường; Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng thành phố C; phù hợp với lời khai của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, đã được làm rõ tại phiên tòa, đủ cơ sở kết luận: từ ngày 02/8 đến 07/8/2022 tại phường Cẩm T, thành phố C, Phạm Hồng Q đã thực hiện hành vi trộm cắp đường dây điện chiếu sáng dân sinh tại các khu phố 5A, 5B, 6A, 6B và 7A, của Ủy ban nhân dân phường Cẩm T, thành phố C, tổng chiều dài 497,5m, tổng trị giá 4.477.500 đồng. Trước đó, ngày 16/7/2022, Phạm Hồng Q bị Công an phường Cẩm T, thành phố C xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

Vậy nên việc truy tố đối với bị cáo như nội dung bản Cáo trạng số: 225/CT-VKSCP ngày 30/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố C, là hoàn toàn có căn cứ, đúng người đúng tội, với tình tiết giảm nhẹ và mức hình phạt do đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp theo quy định của pháp luật.

Về tính chất, mức độ thực hiện tội phạm; nhân thân bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại, được pháp luật bảo vệ, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự công cộng, gây tâm lý hoang mang cho quần chúng nhân dân trong việc quản lý tài sản. Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tài sản của người khác là bất khả xâm phạm nhưng do bản tính tham lam, tư lợi, lười lao động nên đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là đường dây điện chiếu sáng dân sinh phục vụ người dân tại các khu phố 5A, 5B, 6A, 6B và 7A, của Ủy ban nhân dân phường Cẩm T để lấy tiền ăn tiêu. Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng nhiều lần bị xử lý hình sự, bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng, rèn luyện bản thân. Do đó, cần phải xử lý nghiêm bị cáo để cải tạo giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo không có việc làm, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: số dây điện của bị hại đã bị bị cáo trộm cắp đốt lấy dây đồng, được chị T nộp lại, bị hại có quan điểm không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị T không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 830.000 đồng. Xét đây là sự tự nguyện của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại, phù hợp pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận và đều không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng của vụ án: 01 con dao bằng kim loại là công cụ bị cáo dùng để trộm cắp tài sản, dùng vào việc phạm tội; 05 đoạn dây điện có chiều cao lần lượt là 61cm, 46,8cm, 71cm, 48cm và 49,5cm, liên quan đến việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng, nên đều tịch thu, tiêu hủy.

01 túi nilon bên trong chứa các sợi dây bằng kim loại được liên kết với nhau bằng lõi dây điện là tài sản bị cáo trộm cắp của bị hại, bị hại có quan điểm nhận lại tài sản, nên trả lại cho bị hại.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 - Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Hồng Q phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Hồng Q 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/9/2022.

Căn cứ vào điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106 - Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao bằng kim loại, dài 29cm, lưỡi dao dài 15,5cm, cán dao bằng gỗ dài 13,5cm; 05 (năm) đoạn dây điện có chiều cao lần lượt là: 61cm, 46,8cm, 71cm, 48cm và 49,5cm.

Trả lại cho Ủy ban nhân dân phường Cẩm T, thành phố C: 01 (một) túi nilon bên trong chứa các sợi dây bằng kim loại được liên kết với nhau bằng lõi dây điện.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng số 58/BB-THA, ngày 14/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố C, tỉnh Quảng Ninh).

Căn cứ và Điều 135; khoản 2 Điều 136 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Phạm Hồng Q phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Án xử công khai, có mặt bị cáo, vắng mặt bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ