vanban.org

Bản án 20/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 22/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Ngô M Q phạm tội “Cướp tài sản”.

Xử phạt: Ngô M Q 36 (Ba sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày tạm giữ (Ngày 01/01/2023). Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; Điều 6, Điều 21, khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Minh Q phạm tội Cướp tài sản - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Ngô M Q phạm tội “Cướp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THIỆU HÓA
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2023/HS-ST
Ngày: 22 - 6 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THIỆU HÓA, TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thu.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Bùi Quốc Huy; Nghề nghiệp chuyên viên phòng giáo dục huyện Thiệu Hóa.

2. Ông Lê Dũng Tấn; Nghề nghiệp cán bộ hưu trí.

- Thư ký phiên toà: Bà Phùng Thị Tố Loan - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Huyền Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 6 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hoá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 15/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Ngô M Q, sinh ngày: 07/3/2006; Tên gọi khác: Không; Tại: xã Th1 Th, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: thôn Th Đ, xã Th1 Th, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Ngô Văn Q1, sinh năm 1981; Con bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1983; Vợ: chưa; Con: chưa.

Tiền sự: Không; Tiền án: Không.

Nhân thân: Ngày 14/8/2020, có hành vi cố ý gây thương tích và gây rối trật tự công cộng tại tiểu khu 2, thị trấn Thiệu Hóa, tuy nhiên tại thời điểm vi phạm, Ngô M Q chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên không bị xử lý hình sự.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/01/2023 đến ngày 09/01/2023 bị tạm giam. Hiện đang tạm giam tại công an huyện Thiệu Hóa. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Ông Ngô Văn Q1, sinh năm 1981 và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1983;

Cùng địa chỉ: Thôn Th Đ, xã Th1 Th, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

Người bào chữa cho bị cáo Q: Bà Hoàng Thị Thủy – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thanh Hóa.

- Bị hại: Hoàng Đình Th2, sinh năm 2004.

Địa chỉ: Thôn Q3 Tr 3, xã Th1 T, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên tòa vắng mặt anh Th2, anh Th2 có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Văn B, sinh năm 1963; (Vắng mặt).

Địa chỉ: Tiểu khu A, thị trấn Thiệu Hóa, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

- Những người làm chứng:

1. Anh Vũ Đình N, sinh năm 2003; (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn Đ T, xã Th1 Ph, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

2. Anh Nguyễn Thành L , sinh ngày 03/7/2005; (Vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp của anh Lợi: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị D1, sinh năm 1974 (Vắng mặt).

Cùng địa chỉ; Thôn Th B, xã Th1 Th, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

3. Cháu Lê Quốc T, sinh ngày: 12/10/2007; (Vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp của cháu T: Anh Lê Văn T, sinh năm 1984 và chị Ngô Thị Th5, sinh năm 1986; (Vắng mặt).

Cùng địa chỉ; Thôn Th Đ, xã Th1 C, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

4. Cháu Đặng Đình H, sinh ngày: 29/11/2006; (Vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp của cháu Hoàng: Anh Đặng Đình H1, sinh năm 1976 và chị Hoàng Thị V, sinh năm 1986; (Vắng mặt).

Cùng địa chỉ; Thôn X Q, xã Th C, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 29/12/2022, do có mâu thuẫn từ trước nên Lê Quốc T, sinh năm 2007 ở xã Thiệu Công, huyện Thiệu Hóa và Ngô Ngọc Anh Minh, sinh năm 2009 ở xã Th1 Th, huyện Thiệu Hóa nhắn tin hẹn đánh nhau ở cổng trưởng THCS Th1 Th. Minh kể lại nội dung mâu thuẫn cho Ngô M Q, sinh năm 2006 ở cùng xã Th1 Th, huyện Thiệu Hóa biết và cho Q xem tin nhắn hẹn đánh nhau giữa Minh và T ở cổng trường THCS Th1 Th. Lúc này, Q nói với Minh: “Để mai bọn nó lên xem bọn nó định làm gì”. Đến khoảng 13h ngày 30/12/2022, Lê Quốc T và Hoàng Đình Th2, sinh năm 2004 ở xã Th1 T, huyện Thiệu Hóa đi xe máy của Thanh đến cổng trường THCS Th1 Th chờ Ngô Ngọc Anh Minh đến. Lúc này, Ngô M Q, cùng Vũ Đình N, sinh năm 2003 ở xã Th1 Ph và Đặng Đình H, sinh năm 2006 ở xã Thiệu Công đi bộ đến cổng trường THCS Th1 Th thấy T và Thanh đang đứng ở đó. T lấy xe máy của Th2 đi tìm Minh, Th2 ở lại thì bị Q, N, Hoàng dùng tay, chân đánh. Sau đó, T quay lại, Minh và Nguyễn Thành L, sinh năm 2007 ở xã Th1 Th cũng đến cổng trưởng. Lợi dùng tay, chân đánh Th2 rồi quay sang đánh T. Do T và Th2 không chống cự lại nên cả nhóm Q không đánh nữa. Cả hai nhóm đứng ở cổng trường đến 16h cùng ngày thì Q bảo T đưa chìa khóa xe máy để chở nhóm của Q và chở cả T, Thanh về nhà Q. Khi về đến nhà Q, Q yêu cầu T, Thanh đi làm thịt gà, T nói không biết làm thì bị Q đe dọa, bắt phải làm, nếu không sẽ bị đánh. Bị Q dọa đánh nên T, Thanh phải ra làm thịt gà.

Trong lúc T, Thanh làm thịt gà, Q lấy xe máy của Th2 đi mua rau cùng với N. Khi quay về, Q nhìn thấy điện thoại Iphone 6S Plus màu xám trong túi quần của Th2 nên nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại. Q yêu cầu Th2 cho Q mượn điện thoại nhưng Th2 nói điện thoại hết pin rồi. Nghe vậy, Q chửi Th2: “Địt mẹ mi, trong đây có cục sạc, cứ đưa đây cho tau”. Do bị Q chửi bới, sợ bị đánh vì trước đó đã bị Q đánh nên Th2 đã đưa điện thoại cho Q. Q cầm điện thoại vào buồng ngủ, cắm sạc và sử dụng điện thoại của Th2. Sau khi sử dụng điện thoại một lúc, Q đi xuống bếp chuẩn bị đồ để uống rượu, thấy vậy Th2 liền vào buồng ngủ, lấy lại điện thoại của mình. Khi Q quay lại buồng ngủ, không thấy điện thoại nên hỏi Th2 và yêu cầu Th2 đưa điện thoại lại cho Q mượn. Th2 rút điện thoại trong người ra đưa lại cho Q. Q cầm điện thoại của Th2, rủ T đi lấy rượu về uống và lấy xe của Th2 để đi. Trên đường đi, Q dừng xe, lấy điện thoại của Th2 ra, thoát mật khẩu, Icloud, xóa hết dữ liệu rồi dặn T khi nào về nếu Th2 có hỏi thì nói với Th2 là khi đi lấy rượu bị Công an giữ xe, phải cắm điện thoại để có tiền lấy xe về. Sau đó, Q đưa cho T xem một hóa đơn sửa chữa điện thoại với giá 1.000.000đ (một triệu đồng) đề ngày 27/12/2022 của cửa hàng điện thoại Bình Tâm ở thị trấn Thiệu Hóa.

Sau khi Q và T quay về nhà Q, Th2 hỏi T điện thoại tao đâu, thì T nói đi mà hỏi thằng Q. Thanh hỏi Q cho em xin điện thoại để em đi về, lúc này Q nói với Th2 là đã cắm điện thoại lấy tiền nộp phạt để lấy xe và đưa cho Th2 xem hóa đơn sửa chữa điện thoại với mục đích để Th2 nghĩ đó là hóa đơn cắm điện thoại của Th2. Th2 thấy hóa đơn đề ngày 27/12/2022 nên biết đó không phải là hóa đơn cắm điện thoại của mình, Th2 nói: “Không được đâu, về mẹ em đánh chết”. Q nói với Th2 cứ về đi, đem 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) xuống rồi đến đây Q đưa thêm cho 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) nữa mà chuộc điện thoại. Nhưng thực tế, Q vẫn đang giữ điện thoại của Th2 trong người. Th2 không đồng ý mà tiếp tục xin lấy lại điện thoại thì Q nói: “Mi có thích xin không?” rồi ngay lập tức xông vào, dùng tay đánh vào mặt Th2, dùng chân đạp vào bụng và lưng Th2, sau đó đuổi Th2 về, không trả điện thoại cho Th2. Do bị đánh nên Th2 không dám đòi nữa và lấy xe máy của mình ra về. Q vào trong nhà uống rượu với T, Hoàng, N, còn Lợi trước đó đã về nhà, không quay lại. Đến khoảng 20h cùng ngày, Q nhờ N chở xuống quán điện thoại Bình Tâm. Q vào quán, bán chiếc điện thoại vừa chiếm đoạt được của Th2 cho chủ quán là anh Lê Văn B, sinh năm 1952 ở thị trấn Thiệu Hóa với giá 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng). Số tiền này Q đã tiêu xài một mình vào mục đích cá nhân hết.

Ngày 31/12/2022, Hoàng Đình Th2 đã đến Công an xã Th1 Th trình báo sự việc. Ngày 01/01/2023, Ngô M Q đã đến Công an huyện Thiệu Hóa đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình. Quá trình điều tra, anh Lê Văn B đã tự nguyên giao nộp cho Cơ quan điều tra chiếc điện thoại đi động nhãn hiệu Iphone 6S Plus màu xám đã mua của Ngô M Q.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 01/2023/HĐ-ĐGTS ngày 06/01/2023 của Hội đồng định giá tài sản UBND huyện Thiệu Hóa xác định giá trị chiếc điện thoại gửi định giá có giá trị 1.600.000đ (một triệu sáu trăm nghìn đồng).

Về phần dân sự: Sau khi phạm tội bị cáo Q đã tác động gia đình bồi thường cho anh Th2 số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng), đối với chiếc điện thoại Cơ quan điều tra đã được trả lại cho Hoàng Đình Th2, anh Th2 không có đề nghị gì thêm.

Tại bản cáo trạng số 23 - CT/VKS ngày 13/4/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố các bị cáo Ngô M Q, về tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 điều 168 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thiệu Hóa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng: khoản 1 điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 38, điều 91; khoản 1 điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015; Đề nghị xử phạt Ngô M Q từ 36 đến 42 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Người đại diện hợp pháp của bị cáo phải nộp thay cho các bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố, không tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác; Khi nói lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người bào chữa cho các bị cáo và Người đại diện hợp pháp của bị cáo đều đồng ý với quan điểm của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1, Điều 168 Bộ luật hình sự. gười bào chữa cho các bị cáo và Người đại diện hợp pháp của bị cáo đều đề nghị Tòa án xem xét đến nhân thân và độ tuổi của bị cáo, bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, suy nghĩ còn bồng bột, nhất thời phạm tội. Vì vậy người bào chữa và người đại diện hợp pháp của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt, xử phạt bị cáo mức án từ nhẹ nhất vừa đảm bảo tính răn đe và nghiêm minh của pháp luật vừa đảm bảo chính sách khoan hồng của pháp luật hình sự Việt Nam.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi, chứng cứ xác định tội phạm: Tại phiên tòa, các bị cáo Ngô M Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án ; Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào chiều tối ngày 30/12/2022, tại nhà Ngô M Q thôn Th Đ, xã Th1 Th, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa, bị cáo Ngô M Q, đã có hành vi đấm vào mặt và đạp vào bụng anh Hoàng Đình Th2 nhằm chiếm đoạt chiếc điện thoại Iphone 6 plus màu xám của anh Hoàng Đình Th2; Như vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thiệu Hóa truy tố bị cáo về tội “Cướp tài sản” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, để có được chiếc điện thoại đi cầm cố lấy tiền tiêu sài bị cáo đã thể hiện sự táo bạo của bản thân, sử dụng vũ lực ngay tức khắc với người bị hại, để bị hại sợ, không dám chống cự. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân, gây tâm lý hoang mang lo sợ trong một bộ phận quần chúng nhân dân. Hành vi đó phải được xử lý nghiêm để giáo dục bị cáo, đồng thời răn đe phòng ngừa chung.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo: Bị cáo Ngô M Q không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Song bị cáo Ngô M Q có nhân thân xấu, ngày 14/8/2020, có hành vi cố ý gây thương tích và gây rối trật tự công cộng tại tiểu khu 2, thị trấn Thiệu Hóa, tuy nhiên tại thời điểm vi phạm, Ngô M Q chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên không bị xử lý hình sự. Tuy nhiên điều đó chứng tỏ bị cáo có thái độ xem thường pháp luật. Vì vậy cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại, sau khi phạm tội các bị cáo đã ra cơ quan Công an đầu thú. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Mặt khác bị cáo phạm tội khi chưa thành niên, nhận thức chưa đầy đủ, bản thân còn ham chơi, nên được áp dụng quy định đối với người chưa thành niên phạm tội tại các điều 91; khoản 1 điều 101 Bộ luật hình sự (Nếu là tù có thời han thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định) để xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người dưới 18 tuổi nên theo quy định tại điều 91 Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về trách nhiệm dân sự: Ngày 09/01/2023 Cơ quan điều tra đã ra quyết định trả lại chiếc điện thoại cho anh Hoàng Đình Th2, Gia đình bị cáo đã bồi thường cho anh Th2 2.000.000đ (Hai triệu đồng) nên anh Th2 không yêu cầu gì thêm.

Đối với hành vi mua chiếc điện thoại mà Ngô M Q bán cho anh Lê Văn B, khi mua điện thoại Q không nói chiếc điện thoại do cướp mà có, anh Bình không biết chiếc điện thoại do phạm tội mà có, nên Viện kiểm sát không truy tố hành vi của anh Bình về tội “ Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là phù hợp. Đối với số tiền anh Bình bỏ ra mua điện thoại của Q, quá trình điều tra gia đình bị cáo Q đã trả lại đầy đủ số tiền cho anh Bình, anh Bình không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 91; khoản 1 điều 101; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tuyên bố: Bị cáo Ngô M Q phạm tội “Cướp tài sản”.

Xử phạt: Ngô M Q 36 (Ba sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày tạm giữ (Ngày 01/01/2023).

2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; Điều 6, Điều 21, khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo Ngô M Q phải chịu 200.000đ(Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Người đại diện hợp pháp của bị cáo Ngô M Q phải nộp thay cho bị cáo Q.

Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ