- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Văn Tuyền - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về hình phạt bổ sung; theo quy định tại khoản 5 điều 173 và khoản 5 điều 174 của Bộ luật hình sự; do bị cáo không có việc làm, thu nhập là người dân tộc thiểu số, vợ yếu con đông và còn nhỏ, đời sống kinh tế khó khăn nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 55 Bộ luật Hình sự Quyết định hình phạt; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC HỒI TỈNH KON TUM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2023/HS-ST Ngày: 06/7/2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC HỒI TỈNH KON TUM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Phạm Hữu Luân;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Trường và ông Nguyễn Văn Thủy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Quang - Thư ký Toà án nhân dân huyện Ngọc Hồi tỉnh Kon Tum.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hồi tỉnh Kon Tum tham gia phiên toà: Ông Mai Văn Chinh - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 7 năm 2023, tại Hội trường xử án Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hồi tỉnh Kon Tum xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 22/2023/TLST ngày 09 tháng 6 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2023/QĐXXST-HS ngày 22/6/2023 đối với bị cáo:
Đinh Văn Tuyền, tên gọi khác: Không; sinh ngày 18 tháng 01 năm 1996; tại Xã Tiền Phong, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình; nơi cư trú: Thôn Long Dôn, xã Đăk Ang, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Không ổn định. Con ông Đinh Văn Thạch và bà Bùi Thị Tính; có vợ là Y Xế, sinh năm 1995 và 03 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2021; hiện nay vợ, các con của bị cáo cư trú tại: Thôn Long Dôn, xã Đăk Ang, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum
Tiền sự: Không.
Tiền án: Tại bản án số 11/2021/HSST, ngày 04/02/2021 tòa án nhân dân huyện Bầu Bàng tỉnh Bình Dương xử phạt bị cáo Tuyền 07 (Bảy) tháng tù về tội „Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của BLHS. Ngày 17/4/2021 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù; chưa chấp hành xong phần quyết định khác của bản án; chưa được xóa án tích theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 70 của Bộ luật hình sự.
Ngày 03/01/2023 Đinh Văn Tuyền đến cơ quan Công an huyện Ngọc Hồi để đầu thú. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/01/2023, ngày hôm nay 06/7/2023 bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum.
Truy tố về các tội:“Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 và “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
- Người bào chữa cho bị cáo Đinh Văn Tuyền: Bà Đặng Thị Kim Nguyệt, là trợ giúp viên pháp lý; nơi công tác: Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Kon Tum; Địa chỉ: Số 211, đường Trần Hưng Đạo, phường Thống Nhất, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum (Có mặt tại phiên tòa).
- Ngƣời bị hại:
+ Ông A Xanh; Sinh năm: 1972; Địa chỉ: Thôn Đăk Giá 2, xã Đăk Ang, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum (Có mặt tại phiên tòa).
+ Bà Bùi Thị Ngọc; Sinh năm: 1976; Địa chỉ: Thôn Cao Sơn, xã Sa Loong, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum (Có mặt tại phiên tòa).
- Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Đặng Chinh Kỳ; Sinh năm: 1974; Địa chỉ: Tổ dân phố 2, thị trấn Plei Kần, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum (Có mặt tại phiên tòa).
+ Anh Phạm Duy Hiển; Sinh năm; 1980; Địa chỉ: Tổ dân phố 2, thị trấn Plei Kần, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum (Vắng mặt tại phiên tòa).
+ Ông Trần Văn Phương; Sinh năm: 1962; Địa chỉ: Thôn 14 A, xã Đăk Pét, huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum (Vắng mặt tại phiên tòa);
- Ngƣời làm chứng:
+ Bà Bùi Thị Tính; Sinh năm: 1975; Địa chỉ: Thôn Thung Nai, xã Đăk Xú, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum (Có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sau khi cấp hành xong hình phạt tù của Bản án số: 11/2021/HSST, ngày 04/02/2021 tòa án nhân dân huyện Bầu Bàng tỉnh Bình Dương, Đinh Văn Tuyền là chồng của Y Xế, về sinh về sống tại quê vợ: Thôn Long Dôn, xã Đăk Ang, huyện Ngọc Hồi; ông A Xanh là chú ruột của Y Xế. Ngày 13/11/2022, Tuyền nói có công việc cần đi thị trấn Plei Kần, Tuyền mượn xe môtô hiệu YAMAHA Sirius; BKS số: 82E1-08922 và Giấy đăng ký xe của ông A Xanh để đi; nhưng Tuyền đem xe và Giấy đăng ký xe thế chấp cho Đặng Chinh Kỳ, trú tại: Tổ dân phố 2, thị trấn Plei Kần, huyện Ngọc Hồi tỉnh Kon Tum; Tuyền nhận được số tiền 6.300.000 đồng (Đặng Chinh Kỳ có giấy phép, Đăng ký kinh doanh dịch vụ cầm đồ). Chiều tối ngày 26/11/2022 Đinh Văn Tuyền đến nhà Đinh Văn Tuân, tại thôn Cao Sơn, xã Sa Loong, huyện Ngọc, tỉnh Kon Tum chơi và ăn nhậu. Khoảng 21 giờ 00 phút cùng ngày, vợ chồng Bùi Văn Thanh, Bùi Thị Ngọc cũng điều khiển xe môtô hiệu YAMAHA Sirius; BKS số: 82E1-04517 đến nhà Đinh Văn Tuân chơi và ăn nhậu. Đinh Văn Tuyền không nhậu nữa ra ngoài, thấy xe môtô của Bùi Văn Thanh có chìa khóa xe ở ổ khóa, lợi dụng thời điểm vắng người Đinh Văn Tuyền trộm cắp xe môtô BKS số: 82E1-04517 điều khiển xe về nhà mẹ đẻ tại thôn Thung Nai, xã Đăk Xú, huyện Ngọc Hồi. Tuyền xin mẹ tiền, bà Bùi Thị Tính cho Tuyền 200.000 đồng (Đổ xăng), Tuyền điều khiển xe đến đập nước thôn Giao Long, xã Đăk Xú, huyện Ngọc Hồi, Tuyền dùng tay bẻ biển số xe, vớt biển số xe vào bụi cỏ ven đường; sau đó Tuyền đi đâu không rõ, Tuyền không về thăm vợ con, không gặp ông A Xanh. Đầu tháng 12/2022 Tuyền điều khiển xe môtô BKS số: 82E1-04517 (Đã vất bỏ biển số) đi lên thôn 14A, xã Đăk Pét, huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum, đến cơ sở mua bán phế liệu do Trần Văn Phương là chủ (Trần Văn Phương có Giấy phép, Đăng ký kinh doanh mua bán phế liệu); Tuyền nói với Phương “Xe mô tô của Tuyền, do mất giấy tờ xe, cần tiền nên bán xe”; Phương mua xe trả cho tuyền 3.100.000 đồng; sau đó Phương bán xe xe môtô BKS số: 82E1-04517 (Đã vất bỏ biển số, không có Giấy đăng ký xe) làm phương tiện giao thông, cho một người đàn ông không rõ địa chỉ được 3.200.000 đồng, hiện nay không truy tìm được xe.
Ngày 19/12/2022 cơ quan Công an huyện Ngọc Hồi thu xe môtô BKS số: 82E1-08922 và Giấy đăng ký xe tại tiệm cầm đồ của Đặng Chinh Kỳ và trả cho ông A Xanh.
Tại kết luận Định giá tài sản trong tố tụng hình sự số: 364/KL-ĐGTS ngày 28/12/2022 của cơ quan chuyên môn huyện Ngọc Hồi, kết luận: Xe môtô BKS số: 82E1-08922 giá trị 7.050.000 đồng.
Tại kết luận Định giá tài sản trong tố tụng hình sự số: 367/KL-ĐGTS ngày 18/01/2023 của cơ quan chuyên môn huyện Ngọc Hồi, kết luận: Xe môtô BKS số: 82E1-04517 giá trị 3.500.000 đồng.
Quyết định số 02/QĐ-XPHC ngày 02/3/2023 về việc xử phạt vi phạm hành chính, cơ quan chức năng phạt Đặng Chinh Kỳ số tiền 7.500.000 đồng, do vi phạm Quy định tại Điểm 1, khoản 3, Điều 12 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2022.
Tại Quyết định số: 01/2023/HSST-QĐ, ngày 07 tháng 6 năm 2023 của Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hồi tỉnh Kon Tum về việc trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung các nội dung sau:
1. Hủy bỏ Kết luận Định giá tài sản trong tố tụng hình sự số: 367/KL-ĐGTS ngày 18/01/2023 của cơ quan chuyên môn huyện Ngọc Hồi, về việc định giá xe môtô BKS số: 82E1-04517. Tổ chức định giá lại giá trị xe môtô BKS số: 82E1-04517 theo quy định của pháp luật.
2. Khởi tố, truy tố Trần Văn Phương phạm về tội “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
3. Xử phạt hành chính Trần Văn Phương theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP, ngày 26 tháng 8 năm 2020 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại…về hành vi kinh doanh không đúng phạm vi, đối tượng… hoặc mặt hàng ghi trong giấy phép kinh doanh được cấp (nếu cơ quan chức năng cho là Trần Văn Phương không phạm tội “Tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có”).
4. Xử phạt hành chính bà Bùi Thị Ngọc theo quy định tại Điều 30; khoản 10 Điều 80 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019.
Các yêu cầu nêu trên của Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hồi tỉnh Kon Tum không được cơ quan chức năng chấp nhận.
Cáo trạng số: 07/CT-VKS-NH ngày 20/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hồi, Truy tố Đinh Văn Tuyền phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản”. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hồi giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 174; khoản 1 Điều 173, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đinh Văn Tuyền mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; từ 09 tháng đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Quyết định hình phạt cho cả hai tội từ 21 tháng đến 27 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Đinh Văn Tuyền phải hoàn trả số tiền nhận tiền đặt cọc cầm cố tài sản của Đặng Chinh Kỳ; bồi thường số tiền theo kết luận định giá tài sản cho bà Bùi Thị Ngọc; Trần Văn Phương được hưởng lợi số tiền bất chính từ việc bán xe môtô phải xử lý theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Lời khai, trình bày của bị cáo tại phiên tòa:
Với mục đích muốn chiếm đoạt xe mô tô của ông A Xanh, ngày 13/11/2022 Đinh Văn Tuyền Tuyền mượn xe môtô hiệu YAMAHA Sirius; BKS số: 82E1-08922 và Giấy đăng ký xe của ông A Xanh để đi thị trấn Plei Kần; nhưng Tuyền đem xe và Giấy đăng ký xe thế chấp cho Đặng Chinh Kỳ, được số tiền 6.300.000 đồng. Có tiền Tuyền đi lang thang tại huyện Ngọc Hồi; tiêu hết tiền. Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 26/11/2022, Tuyền thấy vợ chồng Bùi Văn Thanh, Bùi Thị Ngọc đến nhà Đinh Văn Tuân chơi, dựng xe môtô hiệu YAMAHA Sirius; BKS số: 82E1-04517 ở sân trước nhà, chìa khóa xe còn để ở ổ khóa xe; lợi dụng lúc không có người để ý Tuyền trộm cắp xe điều khiển xe về nhà mẹ đẻ tại thôn Thung Nai, xã Đăk Xú, huyện Ngọc Hồi. Tuyền xin mẹ tiền, bà Bùi Thị Tính cho Tuyền 200.000 đồng (Đổ xăng), Tuyền điều khiển xe đến đập nước thôn Giao Long, xã Đăk Xú, huyện Ngọc Hồi, Tuyền dùng tay bẻ biển số xe, vớt biển số xe vào bụi cỏ ven đường; đầu tháng 12/2022 Tuyền điều khiển xe môtô BKS số: 82E1-04517 (Đã vất bỏ biển số) đi lên thôn 14A, xã Đăk Pét, huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum, đến cơ sở mua bán phế liệu do Trần Văn Phương là chủ. Tuyền nói với Phương “Xe mô tô của Tuyền, do mất giấy tờ xe, cần tiền nên bán xe”; Phương mua xe trả cho tuyền 3.100.000 đồng; sau đó Phương bán xe xe môtô BKS số: 82E1-04517 (Đã vất bỏ biển số) làm phương tiện giao thông, cho một người đàn ông không rõ địa chỉ được 3.200.000 đồng. Bị cáo phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản” là đúng; bị cáo đã thật thà khai báo, đầu thú về hành vi phạm tội của mình; xin Hội đồng xét xử giảm hình phạt cho bị cáo.
Ngƣời bị hại:
- A Xanh có bản khai và lời khai tại phiên tòa:
Vì là cháu rể, ngày 13/11/2022 Tuyền nói với ông A Xanh có công việc cần đi thị trấn Plei Kần, Tuyền mượn xe môtô hiệu YAMAHA Sirius; BKS số: 82E1-08922 và Giấy đăng ký xe của ông A Xanh để đi; nhưng Tuyền đem xe và Giấy đăng ký xe thế chấp cho Đặng Chinh Kỳ. Từ ngày mượn xe đi đến ngày bị bắt Tuyền không về thăm vợ con. Xe mô tô Tuyền chiếm đoạt của ông, cơ quan chức năng đã thu lại trả cho ông, xe không bị thiệt hại, hư hỏng gì; ông đề nghị pháp luật xử phạt Tuyền đúng quy định của pháp luật, ngoài ra ông không còn có ý kiến gì khác.
- Bùi Thị Ngọc có bản khai và lời khai tại phiên tòa:
Xe môtô hiệu YAMAHA Sirius; BKS số: 82E1-04517 bà Ngọc là chủ sở hữu. Kết luận Định giá tài sản trong tố tụng hình sự số: 367/KL-ĐGTS ngày 18/01/2023 của cơ quan chuyên môn huyện Ngọc Hồi, kết luận: Xe môtô BKS số: 82E1-04517 giá trị 3.500.000 đồng; cơ quan chức năng có làm Thông báo kết quả định giá nhưng không giao Thông báo kết quả định giá cho người bị hại Bùi Văn Thanh, Bùi Thị Ngọc (Không có biên bản giao nhận) là vi phạm quy định tại Điều 222 Bộ luật tố tụng hình sự. Bùi Văn Thanh, Bùi Thị Ngọc không công nhận Kết luận Định giá tài sản trong tố tụng hình sự nói trên của cơ quan chuyên môn huyện Ngọc Hồi và có yêu cầu định giá lại, với lý do: Trong thời gian sử dụng xe, gia đình rất giữ gìn xe, chất lượng xe còn rất tốt; khi xe này không biển số, không giấy đăng ký xe mà Đinh Văn Tuyền còn bán được 3.100.000 đồng cho Phương và Trần Văn Phương bán lại được 3.200.000 đồng (Là giá Phương tự khai, không đủ cơ sở khẳng định Phương khai là đúng) theo Bùi Văn Thanh, Bùi Thị Ngọc thì giá trị xe phải từ 8 triệu đồng đến 10 triệu đồng.
Bà Ngọc yêu cầu định giá lại xe và xét xử nghiêm đối với hành vi trộm cắp tài sản của Đinh Văn Tuyền; buộc Tuyền phải bồi thường tiền xe mô tô cho bà là 8.000.000 đồng.
Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
- Đặng Chinh Kỳ có bản khai và lời khai tại phiên tòa: Ngày 13/11/2022, Tuyền đem xe môtô BKS số: 82E1-08922 và Giấy đăng ký xe của ông A Xanh đến cơ sở cầm đồ của Kỳ để cầm cố lấy tiền; Kỳ đã nhận cầm cố xe và trả cho Tuyền số tiền 6.300.000 đồng. Xe mô tô này, cơ quan chức năng thu đã trả ông A Xanh; Đặng Chinh Kỳ yêu cầu Đình Văn Tuyền phải trả cho Kỳ số tiền 6.300.000 đồng.
- Trần Văn Phương có bản khai: Đầu tháng 12/2022 Tuyền điều khiển xe môtô BKS số: 82E1-04517 (Xe không có biển số, không Giấy đăng ký xe) đi đến cơ sở mua bán phế liệu, do Trần Văn Phương là chủ, tại địa chỉ: Thôn 14A, xã Đăk Pét, huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum. Tuyền nói với Phương “xe mô tô của Tuyền, do mất giấy tờ xe, cần tiền nên bán xe”; Phương không biết xe là do trộm cắp mà có nên mua xe, trả cho tuyền 3.100.000 đồng; sau đó Phương bán xe xe môtô này cho một người đàn ông không rõ địa chỉ, làm phương tiện giao thông được 3.200.000 đồng.
- Phạm Duy Hiển có bản khai: Xe môtô hiệu YAMAHA Sirius; BKS số: 82E1-04517 đăng ký xe Phạm Duy Hiển là chủ sở hữu xe, Phạm Duy Hiển bán xe cho bà Ngọc; bà không đi đăng ký xe, trách nhiệm theo pháp luật thuộc về bà Ngọc; Phạm Duy Hiển không có ý kiến gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại, người tham gia tố tụng khác có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và của người tiến hành tố tụng. Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện cơ bản là đúng quy định của pháp luật.
Về kết quả trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung: Cơ quan chức năng cho là việc Hội đồng xét xử trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung, nội dung trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung là không cần thiết, nên không thực hiện yêu cầu điều tra bổ sung. Theo quy định tại khoản 2 Điều 174 của Bộ luật tố tụng hình sự: Hội đồng xét xử không có quyền trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung lần hai, nên Hội đồng xét xử không còn có ý kiến khác.
Về nội dung: Về hành vi phạm tội của bị cáo: Với ý định chiếm đoạt tài sản của ông A Xanh. Ngày 13/11/2022, Tuyền nói với ông A Xanh “Cần đi thị trấn Plei Kần, huyện Ngọc Hồi để rút tiền, trả tiền mua củ mì (Sắn) trên diện tích đất rẫy ông A Xanh hứa bán cho Tuyền”. Tuyền mượn xe môtô; hiệu YAMAHA Sirius; BKS số: 82E1-08922 và Giấy đăng ký xe của ông A Xanh để đi, ông A Xanh đồng ý. Tuyền đem xe và Giấy đăng ký xe thế chấp và nhận được số tiền 6.300.000 đồng. Do vậy có đủ căn cứ khẳng định: Hành vi bị cáo thực hiện là phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Xe môtô hiệu YAMAHA Sirius; BKS số: 82E1-08922 bị cáo chiếm đoạt; giá trị 7.050.000 đồng.
Khoảng 21 giờ 00 phút, ngày 26/11/2022, tại thôn Cao Sơn, xã Sa Loong, huyện Ngọc Hồi. Tại nhà Đinh Văn Tuân lợi dụng sự chủ quan của chủ xe và lúc không có người để ý, Tuyền trộm cắp xe môtô hiệu YAMAHA Sirius; BKS số: 82E1-04517 vợ chồng Bùi Văn Thanh, Bùi Thị Ngọc. Đầu tháng 12/2022 Tuyền điều khiển xe môtô đi đến cơ sở mua bán phế liệu của Trần Văn Phương; Tuyền nói với Phương “Xe mô tô của Tuyền, do mất giấy tờ xe, cần tiền nên bán xe”; Phương mua xe, trả cho tuyền 3.100.000 đồng. Tuy Hồi đồng xét xử chưa thống nhất xe môtô hiệu YAMAHA Sirius; BKS số: 82E1-04517 giá trị 3.500.000 đồng. Nhưng cũng phải công nhận xe môtô hiệu YAMAHA Sirius; BKS số: 82E1-04517 giá trị 3.500.000 đồng để xét xử vụ án; và cũng vì, nếu xe giá trị 8.000.000 đồng thì bị cáo cũng chỉ bị Truy tố theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Nên có đủ căn cứ khẳng định: Hành vi bị cáo thực hiện là phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hồi truy tố bị cáo Đình Văn Tuyền phạm các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo 1 Điều 174 và tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có đủ căn cứ để chấp nhận.
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu vì bị cáo đã phạm tội, bị kết án chưa được xóa án tích nhưng lại phạm tội với lỗi cố ý.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự;
Đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”; đầu thú.
Đối với tội “Trộm cắp tài sản” bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Thành khẩn khai báo”; đầu thú; không được hưởng tình tiết ăn năn hối cải, vì nếu ăn năn hối cải thì bị cáo đã không trộm cắp tài sản lần 2.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng nhẹ trách nhiệm hình sự “Đã bị kết án, chưa được xóa án tích lại thực hiện hành vi phạm tội do lỗi cố ý” cho cả hai tội.
Xét tính chất mức độ nghiêm trọng của tội phạm:
Bị cáo thực hiện hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” giá trị tài sản 7.050.000 đồng; hành vị của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy cần phải căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử lý nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
Bị cáo thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản” chiếm đoạt tài sản giá trị 3.500.000 đồng; hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền tài sản của người khác, làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Vì vậy cần phải căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử lý nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
Về tổng hợp hình phạt:
Áp dụng cứ Điều 55 của Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội.
Quan điểm của Hội đồng xét xử đối với luận tội, đề nghị loại hình phạt, mức hình phạt của đại diện Viện Kiểm sát đối với bị cao;
Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử Áp dụng Điều 38; khoản 1 Điều 174; khoản 1 Điều 173, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đinh Văn Tuyền mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; từ 09 tháng đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự Quyết định hình phạt cho cả hai tội từ 21 tháng đến 27 tháng tù là có cơ sở cần được chấp nhận. Nhưng cần giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự;
Hội đồng xét xử thấy: Cần buộc bị cáo phải hoàn trả cho Đặng Chinh Kỳ 6.300.000 đồng. Buộc bị cáo phải bồi thường cho Bùi Thị Ngọc 3.500.000 đồng. Công văn số 217/CV-VKS-NH ngày 09/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hồi xác định, giao dịch Tuyền bán xe môtô cho Phương là giao địch vô hiệu; Trần Văn Phương được hưởng lợi số tiền bất chính từ việc bán xe môtô phải bị xử lý theo quy định của pháp luật. Buộc Trần Văn Phương phải nộp 100.000 đồng vào Ngân sách Nhà nước.
Về án phí: Bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; Tuyên bố: Bị cáo Đinh Văn Tuyền phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Áp dụng Điều 38; khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Đinh Văn Tuyền 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự; Tuyên bố: Bị cáo Đinh Văn Tuyền phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;
Áp dụng Điều 38; khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Đinh Văn Tuyền 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng Điều 55 của Bộ luật hình sự; tổng hợp hình phạt của hai tội: Buộc bị cáo Đinh Văn Tuyền phải chấp hành hình chung của hai tội là 02 (Hai) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo (Ngày 03/01/2023).
Về hình phạt bổ sung; theo quy định tại khoản 5 điều 173 và khoản 5 điều 174 của Bộ luật hình sự; do bị cáo không có việc làm, thu nhập là người dân tộc thiểu số, vợ yếu con đông và còn nhỏ, đời sống kinh tế khó khăn nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự; Căn cứ Điều 30 của Bộ luật tố tụng hình sự; Áp dụng Điều 48 của Bộ luật hình sự; các Điều 357; 468; 584; 589 của Bộ luật dân sự buộc Đinh Văn Tuyền phải hoàn trả cho Đặng Chinh Kỳ 6.300.000 đồng (Sáu triệu ba trăm nghìn đồng); buộc Đinh Văn Tuyền phải bồi thường cho Bùi Thị Ngọc 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng); buộc Trần Văn Phương phải nộp 100.000 đồng vào Ngân sách Nhà nước.
Kể từ ngày ông Đặng Chinh Kỳ, bà Bùi Thị Ngọc có đơn yêu cầu thi hành án các khoản tiền nói trên; nếu Đinh Văn Tuyền không trả hoặc trả không hết các khoản tiền phải thi hành án nói trên, thì buộc Đinh Văn Tuyền trả tiền lãi suất 10%/năm theo số tiền còn phải thi hành án và thời gian chậm thi hành án.
Án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Đinh Văn Tuyền được miễn nộp tiền án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo nói trên tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện Ngọc Hồi; - VKSND tỉnh Kon Tum; - Cơ quan điều tra Công an huyện Ngọc Hồi; - Nhà tạm giữ Công an huyện Ngọc Hồi; - Lƣu HS-VA./. Các Hội thẩm nhân dân Nguyễn Xuân Trường | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phạm Hữu Luân Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Thủy Phạm Hữu Luân 12 |