- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Trọng N - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đoàn Trọng N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN CÁI BÈ TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2023/HS-ST Ngày: 11/4/2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Vũ
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Tám
Ông Quách Trung Sơn
- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Trần Khắc Huy - là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Lƣu Văn Em - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 13/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:
Đoàn Trọng N, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1998 tại Tiền Giang. Nơi cư trú: ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hoá: 01/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn S và bà Nguyễn Thị Bé T; bị cáo chưa có vợ con; tiền án 01 lần: ngày 07 tháng 4 năm 2021 bị Tòa án nhân dân huyện X, tỉnh Tiền Giang xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, chấp hành xong hình phạt tù ngày 10 tháng 8 năm 2021, tiền sự: không; về nhân thân: từ nhỏ sống chung gia đình tại ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang học đến lớp 01 nghỉ học phụ giúp gia đình cho đến ngày phạm tội. Bị cáo bị tạm giữ ngày 31 tháng 10 năm 2022, chuyển tạm giam ngày 09 tháng 11 năm 2022 đến nay. (Bị cáo có mặt).
- Bị hại:
1. Ông Mai Xuân T
sinh năm: 1947 (vắng mặt)
Nơi cư trú: ấp E, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang
2. Ông Trần Văn N
sinh năm: 1986 (vắng mặt)
Nơi cư trú: ấp M, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Bị cáo Đoàn Trọng N là đối tượng có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích, N thường xuyên bỏ địa phương đi sinh sống nhiều nơi. Trong khoảng thời gian từ ngày 10 tháng 5 năm 2022 đến ngày 31 tháng 10 năm 2022, bị cáo đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện C, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Vào khoảng 21 giờ, ngày 10 tháng 5 năm 2022, sau khi uống rượu với bạn nhà ở xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang trên đường về, N điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) đi ngang nhà ông Mai Xuân T, sinh năm: 1947 ở ấp E, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang bị cáo N nhìn thấy 02 cái ghế ngồi bằng đất nung hình con voi loại gốm Lái T cao 0,6 mét, rộng 0,4 mét để trước phần mộ trước nhà ông T nên N nảy sinh ý định trộm cắp. N đậu xe lại trước nhà và đi bộ vào bên hông phần đất nhà ông T, sau đó leo qua hàng rào B40 vào phần mộ trộm cắp 02 cái ghế ngồi hình con voi đem ra nơi để xe mô tô rồi điều khiển xe chở lần lượt từng cái ghế về cất giấu tại phòng trọ của mình ở ấp M, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Đến sáng ngày 11 tháng 5 năm 2022, N điện thoại bán 02 cái ghế trộm cắp cho người tên S (không rõ họ, địa chỉ cụ thể) với giá 1.400.000 đồng; số tiền có được N tiêu xài hết.
Theo bản kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản huyện C, tỉnh Tiền Giang số 90/KLĐG-TTHS ngày 05 tháng 12 năm 2022 xác định: 02 con voi loại ghế ngồi bằng đất nung loại gốm Lái T cao 0,6 mét, rộng 0,4 mét trị giá 640.000 đồng.
Vật chứng của vụ án: 01 xe mô tô (không rõ biển số) bị cáo khai nhận, sau khi thực hiện hành vi trộm cắp đã bán lại cho 01 người không rõ họ tên địa chỉ nên Cơ quan điều tra không thu hồi được.
Vụ thứ hai: Vào khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 31 tháng 10 năm 2022, bị cáo N điều khiển xe mô tô biển số 63F9-6465 của N đi từ nhà ngoại của bị cáo ở ấp X, xã Y, huyện C, tỉnh Tiền Giang về nhà Nghĩa tại ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Khi đi ngang vườn của ông Trần Văn N, sinh năm: 1986, thường trú ấp M, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang bị cáo nảy sinh ý định vào tìm tài sản để trộm cắp. N đậu xe mô tô biển số 63F9-6465 phía trước bãi đất trống rồi trèo qua hàng rào lưới B40 vào vườn ông N, khi vào bên trong vườn N lấy 01 chai phân bón lá vi lượng hiệu Tradebor 250 ml và 01 chai thuốc hiệu Maxroot 500 ml trong 01 bao ni long màu xanh để trên nền đất cách hàng rào B40 là 4,4 mét, N tiếp tục đi lại vị trí đặt mô tơ cách hàng rào B40 khoảng 28 mét lấy trộm 01 chai thuốc hiệu Permethrin 50EC, 1000ml; 01 bịch phân bón lá vi lượng Gold Star siêu humic, 01kg (tất cả đều còn chưa sử dụng); 01 bóng đèn sạc tích điện 90W, hiệu VH-PRO; 01 đèn đeo đầu đèn led siêu sáng, hiệu Thaobaodung, model 201; 03 sợi dây kim loại; 01 ổ khóa màu vàng, hiệu HD PA; 01 cây tua vít dài 20 cm để vào bọc ni long màu đen và đi ra về thì bị lực lượng Công an xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang bắt quả tang.
Theo bản kết luận định giá tài sản số 75/KLĐG-TTHS ngày 03 tháng 11 năm 2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, tỉnh Tiền Giang xác định: 01 chai phân bón lá vi lượng hiệu Tradebor, 250ml trị giá 150.000 đồng; 01 chai thuốc hiệu Maxroot 500ml trị giá 70.000 đồng; 01 chai thuốc hiệu Permethrin 50EC, 1000ml trị giá 300.000 đồng; 01 bịch phân bón lá vi lượng hiệu Gold star siêu humic; 01kg trị giá 70.000 đồng; 01 bóng đèn sạc tích điện, 90W, hiệu VH-PRO trị giá 120.000 đồng; 01 đèn đeo đầu, đèn led siêu sáng, hiệu Thaobaodung, model 201 trị giá 150.000 đồng; 03 sợi dây bằng kim loại (dây xích) mỗi sợi dài 02 mét trị giá 90.000 đồng; 01 ổ khóa màu vàng, hiệu HD PA trị giá 30.000 đồng; 01 cây tua vít không có giá trị. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 980.000 đồng.
Vật chứng thu giữ của vụ án gồm: 01 xe mô tô kiểu dáng Dream biển số 63F9 - 6465 màu nâu; 01 chai phân bón lá vi lượng hiệu Tradebor, 250ml; 01 chai thuốc hiệu Maxroot 500ml; 01 chai thuốc hiệu Permethrin 50EC, 1000ml; 01 bịch phân bón lá vi lượng hiệu Gold star siêu humic, 01kg; 01 bóng đèn sạc tích điện, 90W, hiệu VH-PRO; 01 đèn đeo đầu, đèn led siêu sáng, hiệu Thaobaodung, model 201; 03 sợi dây bằng kim loại (dây xích) mỗi sợi dài 02 mét; 01 ổ khóa màu vàng, hiệu HD PA; 01 tua vít dàu 20 cm, cán màu đỏ bằng nhựa, đầu tua vít bằng kim loại. Ngày 08 tháng 11 năm 2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trao trả 01 chai phân bón lá vi lượng hiệu Tradebor, 250ml; 01 chai thuốc hiệu Maxroot 500ml; 01 chai thuốc hiệu Permethrin 50EC, 1000ml; 01 bịch phân bón lá vi lượng hiệu Gold star siêu humic, 01kg; 01 bóng đèn sạc tích điện, 90W, hiệu VH-PRO; 01 đèn đeo đầu, đèn led siêu sáng, hiệu Thaobaodung, model 201; 03 sợi dây bằng kim loại (dây xích) mỗi sợi dài 02 mét; 01 ổ khóa màu vàng, hiệu HD PA; 01 tua vít dài 20 cm, cán màu đỏ bằng nhựa, đầu tua vít bằng kim loại cho chủ sở hữu. Hiện còn tạm giữ 01 xe mô tô kiểu dáng Dream biển số 63F9 - 6465 màu nâu.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát đã tiến hành hỏi cung bị cáo Đoàn Trọng N vào ngày 26 tháng 01 năm 2023, có tổ chức ghi hình có âm thanh lưu vào đĩa DVD được niêm phong lưu vào hồ sơ vụ án. Bị cáo đã thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác do Cơ quan điều tra thu thập.
Tại bản cáo trạng số 13/CT-VKSCB ngày 27 tháng 02 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Đoàn Trọng N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị tuyên bố bị cáo Đoàn Trọng N phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo N từ 12 đến 15 tháng tù. Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng.
Lời nói sau cùng của bị cáo N: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa bị cáo Đoàn Trọng N đã thừa nhận bị cáo có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích và trong khoảng thời gian từ ngày 10 tháng 5 năm 2022 đến ngày 31 tháng 10 năm 2022, trên địa bàn ấp E, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang và ấp M, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang, bị cáo đã lén lút trộm cắp tài sản của ông Mai Xuân T 02 cái ghế ngồi bằng đất nung hình con voi loại gốm Lái T cao 0,6 mét, rộng 0,4 trị giá 640.000 đồng và trộm cắp tài sản của ông Trần Văn N 01 chai phân bón lá vi lượng hiệu Tradebor, 250ml; 01 chai thuốc hiệu Maxroot 500ml; 01 chai thuốc hiệu Permethrin 50EC, 1000ml; 01 bịch phân bón lá vi lượng hiệu Gold star siêu humic, 01kg (tất cả đều chưa sử dụng); 01 bóng đèn sạc tích điện, 90W, hiệu VH-PRO; 01 đèn đeo đầu, đèn led siêu sáng, hiệu Thaobaodung, model 201; 03 sợi dây bằng kim loại (dây xích) mỗi sợi dài 02 mét; 01 ổ khóa màu vàng, hiệu HD PA; 01 tua vít dài 20 cm, cán màu đỏ bằng nhựa, đầu tua vít bằng kim loại, với tổng trị giá 980.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt của ông T và ông N là 1.620.000 đồng.
Lời thừa nhận tội của bị cáo là hoàn toàn phù hợp với lời khai người bị hại, phù hợp lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa; phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó đã có đủ cơ sở kết luận hành vi phạm tội của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của ông T, ông N được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Bản thân bị cáo nhận thức được rằng trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền để tiêu xài cá nhân và vật dụng để làm vườn mà bị cáo đã lợi dụng sự mất cảnh giác của các bị hại để trộm tài sản ông T, ông N mà không sợ bị phát hiện thể hiện sự xem thường pháp luật của bị cáo. Lẽ ra, khi thực hiện xong vụ trộm ngày 10 tháng 5 năm 2022, bị cáo phải nhận ra hành vi vi phạm pháp luật của mình và trả lại tài sản cho ông T nhưng bị cáo không thực hiện mà lại tiếp tục trộm cắp tài sản của ông N vào ngày 31 tháng 10 năm 2022 nên bị cáo phải bị áp dụng tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Do đó, cần phải có một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo là cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho những ai đang có tư tưởng phạm tội như bị cáo.
Tuy nhiên, Hội đồng xét xử có xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo do bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và nhận tội. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiêm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Đối với đối tượng tên S là người mua tài sản bị cáo trộm của ông T hiện không rõ họ, địa chỉ cụ thể. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ sẽ xử lý sau là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: ông T, ông N không có yêu cầu bị cáo bồi thường. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về vật chứng trong vụ án hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Tiền Giang đang tạm giữ gồm: 01 xe mô tô biển số 63F9-6465, kiểu dáng Dream, màu nâu, không nhãn hiệu, đã qua sử dụng, không kính chiếu hậu, không khởi động được, không kiểm tra chi tiết bên trong. Xét thấy, đây là tài sản riêng của bị cáo dùng để đi lại không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Bị cáo N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Đoàn Trọng N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Đoàn Trọng N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 31 tháng 10 năm 2022.
2. Về vật chứng: áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Trả lại cho bị cáo N: 01 xe mô tô biển số 63F9-6465, kiểu dáng Dream, màu nâu, không nhãn hiệu, đã qua sử dụng, không kính chiếu hậu, không khởi động được, không kiểm tra chi tiết bên trong. Hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Tiền Giang đang tạm giữ.
3. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Đoàn Trọng N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Đoàn Trọng N được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm. Ông Mai Xuân T, ông Trần Văn N được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Bị cáo Đoàn Trọng N; - Bị hại ông Mai Xuân T; ông Trần Văn N; - VKS nhân dân huyện C; - Nhà tạm giữ Công an huyện C; - Chi cục THA dân sự huyện C; - Lưu hồ sơ vụ án. | Nguyễn Thanh Vũ |