- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Viết H - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2023/HS-ST Ngày: 08-3-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NH N D N HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Long Giang.
Ông Nguyễn Văn Hòa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Phương, là Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương
tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng,
tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 102/2022/TLST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2022/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Viết H, sinh năm 1985 tại Đắk Lắk; nơi đăng ký hộ khẩu thường
trú: thôn T, xã V, thành phố N tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1 và con bà Nguyễn Thị Hồng A và 01 con; tiền sự: không; tiền án: Bản án hình sự phúc thẩm số 213/HS-PT ngày 17 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt bị cáo H 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; bị bắt, tạm giữ ngày 28 tháng 3 năm 2022 đến ngày 06 tháng 4 năm 2022 tạm giam cho đến nay, có mặt.
- Bị hại:
1. Ngân hàng Thương mại Cổ phần B; địa chỉ: tháp Q, số 194 Trần Q,
phường Y, quận K, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Anh Đỗ Nguyên P, sinh năm 1981; địa
chỉ: số nhà 186, đường 30/4, khu phố 1, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 13 tháng 10 năm 2022), có mặt.
2. Ngân hàng Thương mại Cổ phần D; địa chỉ: số 108, đường Đ, phường E,
quận K, thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Chị Hoàng Thị I, sinh năm 1984; địa
chỉ: số 705/69/22 G, khu 3, phường F, thành phố O, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 15 tháng 8 năm 2022), vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Nguyễn Văn R,
sinh năm 1996; hộ khẩu thường trú: ấp P, xã U , huyện C1, tỉnh Tiền Giang; chỗ ở hiện nay: số 373, đường Ô, phường Ơ, quận P1, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
- Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Nguyễn Viết H là đối tượng đã bị kết án về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản,
bị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng bỏ trốn, chưa chấp hành án. Trong quá trình trốn truy nã, Nguyễn Viết H đã thực hiện hành vi cướp tài sản cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất:
Khoảng 09 giờ ngày 22 tháng 3 năm 2022, Nguyễn Viết H mang theo một
khẩu súng gồm có 02 băng đạn và 09 viên đạn rồi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave được gắn biển số 61Y2-1340 từ Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh đến khu vực lân cận để tìm ngân hàng cướp tài sản. Đến 16 giờ cùng ngày, khi đến địa phận tỉnh Bình Dương, H nhìn thấy ngân hàng Thương mại Cổ phần D - Chi nhánh Khu công nghiệp Â, Phòng giao dịch Ă thuộc địa chỉ khu phố 3, phường Y, thành phố O, tỉnh Bình Dương nên quyết định dừng xe đi vào trong thực hiện hành vi cướp tài sản. Lúc này, H điều khiển xe dựng trước ngân hàng rồi đi bộ đến trước cửa phòng giao dịch, lấy súng giấu trong người ra cầm trên tay và dùng tay đẩy mạnh cửa phòng giao dịch với mục đích vào bên trong sử dụng súng khống chế nhân viên ngân hàng để cướp tài sản. Nhưng do cửa khóa trong, H không mở được và thấy có nhân viên bảo vệ đứng ở cửa nên H đã bỏ ra xe và điều khiển xe về Thành phố Hồ Chí Minh.
Vụ thứ hai:
Khoảng 07 giờ ngày 28 tháng 3 năm 2022, vì vẫn giữ ý định cướp ngân
hàng từ trước nên H đã chuẩn bị 01 khẩu súng ngắn, bắn đạn cao su gồm có 02 băng đạn và 07 viên đạn, 01 cuộn dây điện được quấn bằng băng keo đen và xịt sơn màu đỏ đen nhằm mục đích làm bom giả, 02 nón kết, 02 nón bảo hiểm, 03 cái quần và 05 cái áo thun, 01 biển số giả, 02 chai sơn bỏ trong hai ba lô. Sau khi chuẩn bị xong, H bịt khẩu trang, đội tóc giả, mặc bộ đồ màu đen, bỏ miếng xốp lót ở phần bụng, kẻ chân mày nhằm để cải trang cho không bị nhận dạng ra rồi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave được gắn biển số 61Y2-1340 từ Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh đi theo trục đường Quốc lộ 13 nhằm tìm thấy ngân hàng nào thuận lợi để thực hiện việc cướp tài sản. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, sau một hồi điều khiển xe đi qua lại vài vòng để thăm dò tình hình thì H quyết định chọn Ngân hàng Thương mại Cổ phần B - Chi nhánh M phòng giao dịch Z tại đường Quốc lộ 13 thuộc khu phố B1, thị trấn U, huyện B1, tỉnh Bình Dương, để thực hiện hành vi cướp tài sản. Tiếp đến, H điều khiển xe mô tô ghé vào tiệm tạp hóa (không nhớ tên) nằm trên đường Quốc lộ 13 để mua một lọ keo 502 và đi đổ xăng. Sau đó, H điều khiển xe đến bãi đất trống gần ngân hàng, dừng xe lại, đổ keo 502 vào các ngón tay nhằm làm mờ các dấu vân tay trên ngón tay của mình, sau đó rút súng từ ba lô ra, lên đạn và bỏ vào túi quần rồi điều khiển xe mô tô đi vào trong sân phòng giao dịch, dựng xe vào sát bên tường. Tiếp đến, H vào quầy số 06 tiến hành bốc số thứ tự và ngồi chờ đến lượt. Khi đến lượt mình, H đứng dậy, tiến đến gần quầy giao dịch, rút súng từ túi quần ra chĩa lên trần nhà bóp cò bắn chỉ thiên nhằm đe dọa và uy hiếp nhân viên ngân hàng, đồng thời la lớn “cướp đây, cướp đây”. H bắn lần thứ nhất súng không nổ, H tiếp tục lên đạn để bắn tiếp lần hai nhưng do kẹt đạn nên súng không nổ. Thấy vậy, H cầm súng bỏ ra khỏi phòng giao dịch, lấy xe mô tô để tẩu thoát nhưng đã bị bảo vệ và lực lượng công an của ngân hàng khống chế, bắt giữ.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo H thừa nhận sự việc phạm tội của
mình đúng như Cáo trạng đã truy tố.
Người đại diện hợp pháp của bị hại Ngân hàng Thương mại Cổ phần B,
Ngân hàng Thương mại Cổ phần D và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh R quá trình điều tra, truy tố không có ý kiến gì về hành vi phạm tội của bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan
điểm truy tố hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản”.
- Về các vấn đề khác của vụ án:
Theo Biên bản bắt người quả tang ngày 28 tháng 3 năm 2022 vật chứng thu
giữ gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu sơn đen, gắn biển số: 61Y2-1340; 01 khẩu súng ngắn, 02 hộp tiếp đạn, 06 viên đạn và 01 vỏ đạn, 01 vật quấn băng keo màu đỏ đen, có dây dẫn điện; 02 ba lô màu đen, 02 mũ lưỡi trai, 01 bộ tóc giả, 01 khẩu trang vải, 01 áo thun đen, 01 áo khoác dài tay, một tấm mút; 01 bình sơn phun, 01 quần vải dài, 01 đôi giày vải màu xám; 01 quần dài vải màu đen, 01 áo dài tay vải len màu trắng, 01 áo khoác màu đen.
Ngày 04 tháng 4 năm 2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bàu
Bàng ra Quyết định trưng cầu giám định số 49/QĐ yêu cầu giám định 01 khẩu súng ngắn, 02 hộp tiếp đạn, 06 viên đạn và 01 vỏ đạn có phải là vũ khí quân dụng không. Vỏ đạn thu tại hiện trường có phải từ khẩu súng thu giữ bắn ra không. 01 vật nặng quấn băng keo màu đỏ đen có dây dẫn điện có phải vật liệu nổ hay không.
Tại Kết luận giám định số 2049/KL-KTHS ngày 22 tháng 6 năm 2022 của
Phân viện khoa học Hình sự Bộ công an kết luận: Khẩu súng gửi giám định là công cụ hỗ trợ, không phải là vũ khí quân dụng. Các viên đạn và vỏ đạn gửi giám định là đạn cỡ 9mm X 22mm đạn dùng cho các loại súng là công cụ hỗ trợ và không phải đạn của vũ khí quân dụng. Vỏ đạn thu ở hiện trường được bắn ra từ khẩu súng gửi giám định.
Tại Kết luận giám định số 2049-1/KL-KTHS ngày 18 tháng 4 năm 2022
của Phân viện khoa học Hình sự Bộ công an kết luận: Vật nặng quấn băng keo màu đỏ đen có dây dẫn điện gửi giám định không phải vật liệu nổ.
- Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 63B1-531.26 qua xác
minh, xe mô tô trên có số khung 1253FY190668, số máy: HC12E7190729 do anh Nguyễn Văn R là chủ sở hữu. Anh R cho H mượn xe mô tô trên đi công việc, không biết việc H sử dụng xe để thực hiện hành vi cướp tài sản. Ngày 02 tháng 9 năm 2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bàu Bàng ra Quyết định xử lý vật chứng số 39/QĐ tiến hành trả lại 01 xe mô tô trên cho anh R.
Đối với biển số 61Y2-1340, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bàu
Bàng tiến hành xác minh phương tiện cơ giới đường bộ, kết quả không thấy dữ liệu tra cứu theo biển số trên. Quá trình làm việc, H khai nhận biển số trên là giả, H mua của tiệm bán biển số cũ ven đường tại Thành phố Hồ Chí Minh với giá 70.000 đồng. Xét thấy, biển số trên không có giá trị sử dụng đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 khẩu súng ngắn, 02 hộp tiếp đạn, 06 viên đạn và 01 vỏ đạn,
Nguyễn Viết H khai nhận mua qua mạng Internet vào tháng 11 năm 2021 trong thời gian đến Đà Nẵng với giá 18.000.000 đồng. Xét thấy, vật chứng trên không có giá trị sử dụng đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 vật quấn băng keo màu đỏ đen, có dây dẫn điện, 02 ba lô màu
đen, 02 mũ lưỡi trai, 01 bộ tóc giả, 01 khẩu trang vải, 01 áo thun đen, 01 áo khoác dài tay, 01 tấm mút, 01 bình sơn phun, 01 quần vải dài, 01 đôi giày vải màu xám, 01 quần dài vải màu đen, 01 áo dài tay vải len màu trắng, 01 áo khoác màu đen không có giá trị sử dụng, đề nghị tịch thu tiêu hủy.
- Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần D và Ngân hàng Thương mại B không có
thiệt hại về tài sản nên không yêu cầu bị cáo bồi thường.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về các vấn đề
trên.
Người đại diện hợp pháp của bị hại B, Ngân hàng Thương mại Cổ phần D
và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh R quá trình điều tra, truy tố không có ý kiến gì về các vấn đề trên.
- Về trích dẫn cáo trạng của Viện kiểm sát:
Bản Cáo trạng số 98/CT-VKSBB ngày 09 tháng 11 năm 2022 của Viện
kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Viết H về tội “Cướp tài sản” theo điểm h khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
Về mức hình phạt: áp dụng điểm h, khoản 2 Điều 168, điểm h, s khoản 1, 2
Điều 51 và Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo H từ 08 (tám) năm đến 09 (chín) năm tù; tổng hợp hình phạt 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù của Bản án số 213/HS-PT ngày 17 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk. Hình phạt chung bị cáo H phải chấp hành là 17 (mười bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 18 (mười tám) năm 06 (sáu) tháng tù.
- Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01 khẩu súng ngắn màu trắng bạc, 02 hộp tiếp đạn, 03
viên đạn và 04 vỏ đạn (đã được niêm phong), 01 vật quấn băng keo màu đỏ đen có dây dẫn điện (trong đó gồm: băng keo, dây điện màu đỏ, sạc dự phòng (đã qua sử dụng), 02 ba lô màu đen (đã qua sử dụng), 02 mũ lưỡi trai (đã qua sử dụng), 01 bộ tóc giả (đã qua sử dụng), 01 khẩu trang vải (đã qua sử dụng), 01 áo thun đen (đã qua sử dụng), 01 áo khoác dài tay (đã qua sử dụng), 01 tấm mút (đã qua sử dụng), 01 bình sơn phun (đã qua sử dụng), 01 quần vải dài (đã qua sử dụng), 01 đôi giày vải màu xám (đã qua sử dụng), 01 quần dài vải màu đen (đã qua sử dụng), 01 áo dài tay vải len màu trắng (đã qua sử dụng), 01 áo khoác màu đen (đã qua sử dụng), 01 đôi giày cổ cao (đã qua sử dụng) và 01 biển số 61Y2-1340 (đã qua sử dụng).
Tại phiên tòa, bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại Ngân hàng
Thương mại Cổ phần B không tranh luận gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát và luận tội của Kiểm sát viên.
Người đại diện hợp pháp của bị hại Ngân hàng Thương mại Cổ phần D và
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh R vắng mặt tại phiên tòa nên không ghi nhận được ý kiến.
Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo không nói lời nói sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng khác của Cơ quan điều tra
Công an huyện Bàu Bàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: Vào ngày 22
tháng 3 năm 2022, tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần D- Chi nhánh Khu công nghiệp  - Phòng giao dịch Ă thuộc khu 3, P thành phố M, Bình Dương bị cáo mang theo 01 khẩu súng gồm hai băng đạn và chín viên đạn đến mục đích cướp tài sản nhưng đến nơi cửa ngân hàng đã khóa nên bị cáo đã bỏ về. Vào khoảng 15 giờ 40 phút ngày 28 tháng 3 năm 2022, tại Ngân hàng Thương mại B - Chi nhánh M - Phòng giao dịch B1 thuộc khu phố B1, thị trấn U, huyện B1, tỉnh Bình Dương; bị cáo có hành vi dùng súng bắn đạn cao su để khống chế và uy hiếp nhân viên nhằm mục đích cướp tài sản thì bị bắt giữ. Xét lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án, phù hợp lời khai của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, nội dung bản Cáo trạng và diễn biến tại phiên tòa. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo phạm tội “Cướp tài sản”. Do đó, Cáo trạng truy tố bị cáo theo điểm h khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Vụ án cướp tài sản mà bị cáo thực hiện có tính chất rất nghiêm trọng.
Tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần B – Chi nhánh M – Phòng giao dịch B1 bị cáo đã dùng hung khí là súng bắn đạn cao su để khống chế và uy hiếp nhân viên đe dọa nhằm mục đích cướp được tài sản của bị hại. Trước khi sự việc cướp tài sản của bị cáo tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần B – Chi nhánh M – Phòng giao dịch B1 thì bị cáo cũng đã thực hiện hành vi cướp tài sản tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần D - chi nhánh Khu công nghiệp  - Phòng giao dịch Ă nhưng bị cáo không thực hiện hành vi được đến cùng là do điều kiện hoàn cảnh khách quan. Xét thấy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của bị hại một cách trái pháp luật, gây mất trật tự trị an trong khu vực, gây hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân và thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo. Bị cáo là người đã có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì vậy việc đưa bị cáo ra xét xử tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn cần thiết.
Vì tham lam, muốn hưởng thụ nhưng lại lười lao động và muốn có tiền
tiêu xài nhanh chóng nên bị cáo đã cố ý phạm tội. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội của mình một cách táo bạo, bất chấp, liều lĩnh nơi đông người. Xét về yếu tố lỗi, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do vậy, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất hành vi phạm tội, đủ để giáo dục răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm
nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như sau:
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra và tại
phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại. Ngoài ra, bị cáo có ông ngoại Nguyễn Tấn K1 được Nhà nước tặng thưởng Bằng khen Tổ quốc ghi công nên được hưởng các tình tiết quy định tại điểm h, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.
Bị cáo H bị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 09 (chín) năm 06
(sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Bị cáo tại ngoại để chờ thi hành án nhưng lại có hành vi bỏ trốn không chấp hành Bản án phúc thẩm số 213/HS-PT ngày 17 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk. Ngày 09 tháng 02 năm 2022, Cơ quan hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk đã ra Quyết định truy nã số 02/QĐTN-PC10 đối với bị cáo H. Ngày 31 tháng 5 năm 2022, do bị cáo H bị Công an huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang nên Cơ quan hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk đã ra Quyết định đình nã số 04/QĐĐN. Do hình phạt của Bản án số 213/HS-PT ngày 17 tháng 9 năm 2021, bị cáo H chưa chấp hành án vì vậy, tại phiên tòa ngày hôm nay, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để tổng hợp hình phạt buộc bị cáo H phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án.
Về xử lý vật chứng:
Đối với biển số 61Y2-1340 ngày 22 tháng 8 năm 2022, Cơ quan Cảnh sát
điều tra Công an huyện Bàu Bàng tiến hành xác minh phương tiện cơ giới đường bộ, kết quả không thấy dữ liệu tra cứu theo biển số trên. Quá trình làm việc, bị cáo H cũng đã khai nhận biển số trên là giả. Xét thấy, biển số 61Y2-1340 là công cụ, phương tiện bị cáo dùng vào mục đích phạm tội nhưng không có giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử sẽ tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật hình sự.
Đối với 01 khẩu súng ngắn, 02 hộp tiếp đạn, 06 viên đạn và 01 vỏ đạn, 01
vật quấn băng keo màu đỏ đen, có dây dẫn điện, 02 ba lô màu đen, 02 mũ lưỡi trai, 01 bộ tóc giả, 01 khẩu trang vải, 01 áo thun đen, 01 áo khoác dài tay, 01 tấm mút, 01 bình sơn phun, 01 quần vải dài, 01 đôi giày vải màu xám, 01 quần dài vải màu đen, 01 áo dài tay vải len màu trắng, 01 áo khoác màu đen, 01 áo khoác màu đen, 01 đôi giày cổ cao (tất cả đã qua sử dụng) là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội xét thấy toàn bộ vật chứng trên không có giá trị sử dụng Hội đồng xét xử sẽ tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 63B1-531.26. Qua
xác minh, xe mô tô trên có số khung 1253FY190668, số máy: HC12E7190729 là của anh Nguyễn Văn R là chủ sở hữu. Anh R cho bị cáo mượn xe mô tô nhưng không biết việc bị cáo sử dụng xe để thực hiện hành vi phạm tội. Ngày 02 tháng 9 năm 2022, Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bàu Bàng ra Quyết định xử lý vật chứng số 39/QĐ tiến hành trả lại 01 xe mô tô trên cho anh R là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về bồi thường thiệt hại: Do các bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường
nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên về mức hình phạt đối với bị cáo tại phiên
tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Hội đồng xét xử quyết định cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của
pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm h khoản 2 Điều 168, điểm h, s khoản 1, 2 Điều 51 và
Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình
sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106, các Điều 136, 260, 333 của Bộ luật Tố
tụng hình sự năm 2015.
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm
2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Viết H phạm tội “Cướp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Viết H 08 (tám) năm tù. Tổng hợp hình phạt 09
(chín) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” của Bản án hình sự phúc thẩm số 213/HS-PT ngày 17 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk; buộc bị cáo Nguyễn Viết H phải chấp hành hình phạt chung là 17 (mười bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28 tháng 3 năm 2022, được khấu trừ thời gian đã bị tạm giam từ ngày 07 tháng 10 năm 2020 đến ngày 26 tháng 11 năm 2020.
2.Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01 khẩu súng ngắn màu trắng bạc, 02 hộp tiếp đạn, 03
viên đạn và 04 vỏ đạn (đã được niêm phong), 01 vật quấn băng keo màu đỏ đen có dây dẫn điện (trong đó gồm: băng keo, dây điện màu đỏ, sạc dự phòng (đã qua sử dụng), 02 ba lô màu đen (đã qua sử dụng), 02 mũ lưỡi trai (đã qua sử dụng), 01 bộ tóc giả (đã qua sử dụng), 01 khẩu trang vải (đã qua sử dụng), 01 áo thun đen (đã qua sử dụng), 01 áo khoác dài tay (đã qua sử dụng), 01 tấm mút (đã qua sử dụng), 01 bình sơn phun (đã qua sử dụng), 01 quần vải dài (đã qua sử dụng), 01 đôi giày vải màu xám (đã qua sử dụng), 01 quần dài vải màu đen (đã qua sử dụng), 01 áo dài tay vải len màu trắng (đã qua sử dụng), 01 áo khoác màu đen (đã qua sử dụng), 01 đôi giày cổ cao màu đen trắng (đã qua sử dụng) và 01 biển số 61Y2-1340 (đã qua sử dụng).
(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08 tháng 11 năm
2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương).
3. Về án phí: bị cáo Nguyễn Viết H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn
đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo trong thời
hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - VKSND huyện Bàu Bàng; - Công an huyện Bàu Bàng; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng; - Bị cáo; bị hại; - Người có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan đến vụ án; - Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có); - Lưu: hồ sơ, Văn phòng. 3. Quyền kháng cáo: bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quốc Dũng Nguyễn Văn Độ THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Tùng Nguyễn Thanh Tùng Nguyễn Thanh Tùng |