vanban.org

Bản án 20/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 02/02/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 02/02/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2023/HS-PT
Ngày: 02-02-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trung Tuấn.

Các Thẩm phán: Ông Huỳnh Thanh Mỹ;

Ông Lê Khắc Thịnh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Liệt - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 02 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 335/2022/TLPT-HS ngày 14 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo Nguyễn Công T và đồng phạm. Do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Công T và Lê Văn V đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 40/2022/HS-ST ngày 02 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị cáo có kháng cáo:

1. Nguyễn Công T (tên gọi khác: TC), sinh năm 1977, tại: tỉnh An Giang; HKTT; ấp Hòa Bình, xã Kiến An, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang; Nơi cư trú hiện nay: ấp Long Thượng, xã Kiến An, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Công Tr, sinh năm: 1948 (chết) và con bà Nguyễn Thị D, sinh năm: 1955; gia đình bị cáo: có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ 02; vợ; Lê Thị V, sinh năm 1974; con: có 01 người sinh năm 2013; tiền sự: tiền án: không; nhân thân: Ngày 06/01/2005 bị Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản; Ngày 09/6/2009 bị Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang xử phạt 09 tháng tù, tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt ngày 14/9/2009; Ngày 28/5/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản chấp hành xong ngày 22/01/2016; Ngày 27/7/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (chấp hành xong ngày 09/11/2018) đã được xóa án tích; Tạm giữ ngày 07/5/2022; Tạm giam ngày 16/5/2022 được hủy bỏ biện pháp tạm giam và trả tự do ngày 04/8/2022; hiện đang trú tại: ấp Long Thượng, xã Kiến An, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, có mặt.

2. Lê Văn V (tên gọi khác: BĐen), sinh năm 1983, tại: tỉnh An Giang; HKTT: ấp Kiến Thuận 2, xã Kiến Thành, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: không biết chữ; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Hữu D, sinh năm: 1959 và con bà Lê Thị L, sinh năm 1961; gia đình bị cáo: có 06 anh em, bị cáo là con thứ 3; vợ: Trương Thị Huệ E, sinh năm 2002; con: có 02 người, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền sự: tiền án: không; Nhân thân: Ngày 29/9/2002 bị chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang đưa vào trường giáo dưỡng thời gian 02 năm về hành vi gây rối trật tự công cộng và Trộm cắp tài sản; Ngày 19/10/2009 bị chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc 24 tháng; Ngày 26/12/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xử phạt 06 tháng tù về tội Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có; Ngày 19/3/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản (chấp hành xong ngày 02/12/2018) đã được xóa án tích; Tạm giữ ngày 17/7/2022; Tạm giam 20/7/2022 đến nay, có mặt.

Trong vụ án còn có người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Công T với Lê Văn V là bạn bè đều có nhân thân xấu đã bàn bạc cùng nhau đi trộm cắp tài sản của người khác nhằm bán lấy tiền chia nhau tiêu xài, để thực hiện Nguyễn Công T đã chuẩn bị 01 kiềm cộng lực, 01 kiềm răng thường, 01 cây cờ lê 10, 01 cây vít, bả thuốc chó, 01 biển số xe (không rõ số) tất cả để trong giỏ xách.

Đến 21 giờ ngày 05/5/2022 Nguyễn Công T điều khiển xe mô tô biển số 67L3-7130 chở Lê Văn V đi từ huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang qua địa phận huyện Thanh Bình và huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp rồi đến huyện Tân Hưng, tỉnh Long An để tìm tài sản trộm nhưng gặp lực lượng Công an tuần tra, vì sợ phát hiện nên Nguyễn Công T cho xe quay trở lại. Lúc này khoảng 01 giờ ngày 06/5/2022 khi đến trước nhà một trệt một lầu của ông Huỳnh Văn Niếu thuộc Ấp 3, xã Tân Mỹ, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp, cả 02 dắt xe ra sau nhà Huỳnh Văn Niếu rồi Lê Văn V leo rào đột nhập vào nhà khi đó bị 02 con chó sủa, sợ bị phát hiện Lê Văn V leo xuống và kêu Nguyễn Công T đưa bả thuốc chó để Lê Văn V ném cho chó ăn và 02 con chó đã trúng bả thuốc chết. Khoảng 15 phút sau Nguyễn Công T và Lê Văn V dùng kiềm cộng lực cắt ổ khóa cửa hàng rào phía sau nhà Huỳnh Văn Niếu, khi đó Nguyễn Công T ở ngoài canh đường còn Lê Văn V vào bên trong phát hiện tại mé hiên nhà Huỳnh Văn Niếu có khóa cửa bên trong chứa 04 xe mô tô, nên Lê Văn V đi chở ra hỏi Nguyễn Công T có lấy mô tô không? Nguyễn Công T đi vào xem và trở ra nói xe này sẽ bán được nhiều tiền nên thống nhất lấy xe, Nguyễn Công T và Lê Văn V tiếp tục dùng kiềm cộng lực cắt ổ khóa cửa và cắt dây xích sắt khóa chung 04 xe mô tô, sau đó Nguyễn Công T dẫn xe biển số 66B1-078.63 nhãn hiệu HONDA, loại FUTURE F1 màu đen xám vàng ra hàng rào, rồi lấy kiềm cùng tua vít tháo bỏ biển số tại hiện trường rồi gắn biển số giả vào, do không có chìa khóa xe nên Lê Văn V tháo mặt nạ xe, câu điện trực tiếp nhằm khởi động xe. Trong thời gian Lê Văn V tháo mặt nạ xe thì Nguyễn Công T trở vào trong nhà Huỳnh Văn Niếu lấy thêm chiếc xe biển số 66B1 – 281.94 nhãn hiệu YAMAHA GRANDE (tay ga) Nguyễn Công T và Lê Văn V dẫn xe ra khỏi nhà khoảng 30 mét dùng kiềm cạy cốp xe tay ga để tìm tài sản nhưng không có, nên Nguyễn Công T và Lê Văn V bỏ xe tay ga lại bên đường. Sau đó Lê Văn V điều khiển xe biển số 67L3-7130 chở giỏ xách đựng công cụ dùng để trộm chạy trước canh đường còn Nguyễn Công T thì điều khiển xe mô tô đã lấy trộm của ông Niếu chạy sau. Khi về đến An Giang hai bị cáo bàn nhau tìm người bán xe vừa trộm được, Nguyễn Công T là người biết được ông Nguyễn Thanh Hải ngụ Kiến An, Chợ Mới là người cần mua xe củ để làm phương tiện đi đồng, nên Nguyễn Công T đưa điện thoại cho Lê Văn V điện cho Nguyễn Thanh Hải kêu bán xe, đến 05 giờ ngày 06/5/2022 Nguyễn Thanh Hải chạy xe đến đường đal thuộc xã Kiến Thành, huyện Chợ Mới gặp Nguyễn Công T và Lê Văn V mua xe với giá 7.000.000 đồng khi mua Nguyễn Thanh Hải không biết xe trộm mà nghĩ rằng xe của Nguyễn Công T do thua bài bán rẻ. Khi có tiền Nguyễn Công T và Lê Văn V chia đôi mỗi người 3.500.000 đồng, sau đó Lê Văn V chạy xe đã bán cho Nguyễn Thanh Hải về nhà, đến sáng thì Nguyễn Thanh Hải đến lấy xe về, vì sợ phát hiện nên Lê Văn V đem giỏ xách đựng công cụ ném xuống sông để phi tang vật chứng, hiện không truy tìm được.

Theo kết quả định giá tài sản số 42/KL-HĐ ngày 12/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Thanh Bình, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe FUTURE F1 màu đen xám vàng, biển kiểm soát 66B1 – 078.63 đã qua sử dụng có giá trị là 14.000.000 đồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA loại xe GRANDE màu đỏ biển kiểm soát 66B1 -281.94 đã qua sử dụng có giá là 19.667.000 đồng; 02 con chó có tổng trọng lượng là 27 kg có giá trị là 1.530.009 đồng. Tổng giá trị tài sản là 35.197.009 đồng.

Tại bản án số 40/2022/HS-ST ngày 02/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Công T, Lê Văn V phạm Tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Công T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, nhưng được trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/5/2022 đến ngày 04/8/2022.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Văn V 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 17/7/2022.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 08 tháng 11 năm 2022, bị cáo Nguyễn Công T có đơn kháng cáo với nội dung xin được giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 02 tháng 11 năm 2022, bị cáo Lê Văn V có đơn kháng cáo với nội dung xin được giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa, sau khi phân tích tính chất vụ án, hành vi phạm tội của hai bị cáo đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất hành vi phạm tội của hai bị cáo, xử phạt mỗi bị cáo hai năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Các bị cáo kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt, nhưng không đưa ra được tình tiết giảm nhẹ nào mới. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Công T, Lê Văn V, giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm vấn công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Công T và Lê Văn V thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định: Sáng ngày 06/5/2022, Nguyễn Công T và Lê Văn V đột nhập vào nhà của Huỳnh Văn Niếu bị chó sủa, Lê Văn V đã ném bả thuốc chó cho chó ăn khi chó trúng bả thuốc chết, Lê Văn V vào nhà của Huỳnh Văn Niếu lấy xe biển số 66B1-078.63 nhãn hiệu HONDA, loại FUTURE F1 màu đen xám vàng và xe biển số 66B1 - 281.94 nhãn hiệu YAMAHA GRANDE (tay ga). Tổng giá trị tài sản hai bị cáo chiếm đoạt là 35.197.009 đồng. Do đó , Tòa án cấp sơ thẩm qui kết bị cáo Nguyễn Công T, Lê Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[2] Xét kháng cáo xin giảm hình phạt của hai bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy rằng: hành vi của bị cáo Nguyễn Công T, Lê Văn V là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản của người khác một cách trái pháp luật. Hành vi đó đã gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần phải xử phạt nghiêm để răn đe, giáo dục cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Khi lượng hình tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ như: thành khẩn khai báo, ăn năng hối cải; khắc phục hậu quả theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự các bị cáo có nhân thân đặc biệt xấu nên đã xử phạt bị cáo Nguyễn Công T 02 năm tù, bị cáo Lê Văn V 02 năm tù là phù hợp với qui định pháp luật và phù hợp tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra. Bị cáo Nguyễn Công T và Lê Văn V kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt nhưng bị cáo không xuất trình được những chứng cứ gì mới ngoài các tình tiết mà án sơ thẩm đã xem xét. Do đó, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt.

[3] Từ những nội dung trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo là có cơ sở, phù hợp pháp luật, nên được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

[4] Do kháng cáo của bị cáo Nguyễn Công T, Lê Văn V không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

1. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Công T, Lê Văn V. Giữ nguyên phần quyết định của bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Công T, Lê Văn V.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Công T, Lê Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1.1. Áp dụng vào khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt Nguyễn Công T – 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, nhưng trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/5/2022 đến ngày 04/8/2022.

1.2. Áp dụng vào khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt Lê Văn V – 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 17/7/2022.

2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo Nguyễn Công T, Lê Văn V mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ