vanban.org

Bản án 20/2023/HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Thông tư số: 12/2016/TTLT – BTP – BNG - TANDTC ngày 19/10/2019 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ N và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về trình tự, thủ tục tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Nguyễn Thị Kiều O được ly hôn với ông Lee In S. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Kiều O khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NGUYỄN THỊ KIỀU OANH - LEE IN SU"
  • Tòa quyết gì? Thông tư số: 12/2016/TTLT – BTP – BNG - TANDTC ngày 19/10/2019 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ N và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về trình tự, thủ tục tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự.
  • Căn cứ chính? Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự; Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC Quy định v…; Điều 122 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2023/HNGĐ - ST
Ngày 23 - 3 - 2023
“V/v Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Phượng

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Đặng Hồng Luyến

Bà Lê Kim Thủy

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà Linh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang: Bà Dương Thanh Giềng

- Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Trong ngày 23 tháng 3 năm 2023, tại phòng xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 19/2022/TLST- HNGĐ ngày 18 tháng 5 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 17/2023/QĐXXST - HNGĐ, ngày 01 tháng 02 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2023/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kiều O, sinh năm 1998 (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp H, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang.

- Bị đơn: Ông Lee In S, sinh năm 1980 (Vắng mặt).

Địa chỉ: #1103, 101-dong, Huyndai A, S1 – ro, P – si, G-do (Korean).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kiều O trình bày: Vào năm 2017 qua mai mối giới thiệu bà quen và tìm hiểu với ông Lee In S là công dân Hàn Quốc. Hai bên tiến đến đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tại Lãnh sự Hàn Quốc tại Thành phố Hồ Chí Minh. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 2017-16652, ngày 10/7/2017. Vào ngày 03/8/2017 được ghi vào sổ đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Hậu Giang. Sau khi kết hôn bà và ông Lee In S về Hàn Quốc chung sống. Trong thời gian chung sống với chồng bà và chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, như bất đồng quan điểm, mâu thuẫn về tài chính. Do chồng không còn quan tâm đến bà, năm 2021 bà trở về Việt Nam sinh sống cho đến nay. Từ khi bà về Việt Nam đến nay chồng không còn liên lạc nữa. Nay bà thấy tình cảm vợ chồng không còn, bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lee I Su theo quy định pháp luật Việt Nam.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị Kiều O và ông Lee In S không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Kiều O khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn ông Lee In S từ khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành ủy thác tư pháp cho cơ quan có thẩm quyền của Đại Hàn D, để tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng ông Lee In S vắng mặt và cũng không có gửi văn bản nêu ý kiến gì để phản hồi đến Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký và đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết cho bà Nguyễn Thị Kiều O được ly hôn với ông Lee I Su theo quy định của pháp luật; Về con chung, tài sản chung và nợ chung, do đương sự khai không có nên đề nghị không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét và kết quả hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kiều O, địa chỉ thường trú tại ấp H, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang, có đơn khởi kiện xin ly hôn với bị đơn ông Lee In S là người nước ngoài có quốc tịch Hàn Quốc và đang cư trú tại Hàn Quốc. Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Kiều O và ông Lee In S có yếu tố nước ngoài, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Bị đơn ông Lee In S đã được Tòa án tiến hành thực hiện ủy thác tư pháp cho cơ quan có thẩm quyền của Đại Hàn D, để tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng không triệu tập được bị đơn, nên không có lời khai của bị đơn ông Lee In S. Đến nay, Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang không nhận được thông báo của cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại khoản 4 Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 5 Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn ông Lee In S.

Đối với nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kiều O có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kiều O, theo quy định khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

Về quan hệ hôn nhân

Bà Nguyễn Thị Kiều O và ông Lee In S chung sống với nhau và đã đăng ký kết hôn tại Lãnh sự Hàn Quốc, tại Thành phố Hồ Chí Minh. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 2017-16652, ngày 10/7/2017. Vào ngày 03/8/2017 được ghi vào sổ đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Hậu Giang. Quan hệ hôn nhân của bà Nguyễn Thị Kiều O và ông Lee In S được pháp luật Việt Nam thừa nhận.

Sau khi kết hôn, bà Nguyễn Thị Kiều O được ông Lee I Su bảo lãnh sang Hàn Quốc chung sống tại gia đình chồng, thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng càng về sau thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng ngôn ngữ và tài chính. Năm 2021 bà Nguyễn Thị Kiều O trở về Việt Nam sinh sống cho đến nay và không còn liên lạc với ông Lee In S. Xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị Kiều O và ông Lee In S không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử, căn cứ vào quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận cho bà Nguyễn Thị Kiều O được ly hôn với ông Lee In S.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Kiều O khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát có căn cứ pháp luật và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Kiều O phải chịu theo quy định của pháp luật.

Về lệ phí ủy thác tư pháp: Bà Nguyễn Thị Kiều O phải chịu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; Điều 147; Điều 470; Điều 474; Điều 477; Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 27; Điều 44 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Thông tư số: 12/2016/TTLT – BTP – BNG - TANDTC ngày 19/10/2019 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ N và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về trình tự, thủ tục tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự.

Áp dụng Điều 51; Điều 56 và Điều 122 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Nguyễn Thị Kiều O được ly hôn với ông Lee In S.

2. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Kiều O khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

3. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Kiều O phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), chuyển tiền tạm ứng án phí bà Nguyễn Thị Kiều O đã nộp theo biên lai thu số 0000115 ngày 12 tháng 5 năm 2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hậu Giang thành án phí.

4. Lệ phí ủy thác tư pháp: Bà Nguyễn Thị Kiều O phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng), chuyển tiền tạm ứng lệ phí ủy thác tư pháp bà Nguyễn Thị Kiều O đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000130 ngày 08 tháng 6 năm 2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hậu Giang thành lệ phí ủy thác tư pháp.

5. Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ