vanban.org

Bản án 20/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Cẩm D đối với bị đơn Ông Đào Văn R về việc: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Cẩm D được ly hôn với bị đơn Ông Đào Văn R. Về con chung: Giao các con chung là cháu Đào Thị Diễm, sinh ngày 08/02/2005 và Đào Thị Hằng Ni, sinh ngày 14/9/2010 cho bà Huỳnh Thị Cẩm D được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông Đào Văn R không phải cấp … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Huỳnh Thị Cẩm D - Đào Văn R"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Cẩm D đối với bị đơn Ông Đào Văn R về việc: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BẾN CÁT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 15-3-2023
V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lại Thị Ngọc Bích

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đỗ Minh Tùng;

2. Ông Ngô Hoàng Sĩ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Nga – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Đỗ Thiện Đại - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 1108/2022/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 10 năm 2022 về việc: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2023/QĐST-HNGĐ ngày 22/02/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Cẩm D, sinh năm 1989; địa chỉ: Nhà trọ NTG, khu phố PN, phường HL, thị xã BC, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Đào Văn R, sinh năm 1990; địa chỉ: Nhà trọ NTG, khu phố PN, phường HL, thị xã BC, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo Đơn khởi kiện và quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Huỳnh Thị Cẩm D trình bày:

Bà D và Ông Đào Văn R sau thời gian tìm hiểu thì quyết định về chung sống với nhau từ năm 2005 và tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã Vị Trung, huyện Vị Thuỷ, tỉnh Hậu Giang vào năm 2010. Sau khi kết hôn thì vợ chồng cùng lên Bình Dương làm thuê sinh sống. Thời gian đầu vợ chồng bà chung sống với nhau rất hạnh phúc. Tuy nhiên trong khoảng thời gian khoảng 02 - 03 năm trở lại đây vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm với nhau. Nguyên nhân do ông R không chăm lo cho gia đình, có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, dù đã rất nhiều lần bà D khuyên nhủ nhưng ông R không nghe nên dẫn đến mâu thuẫn càng gay gắt. Nhận thấy không thể tiếp tục nên bà D đã chủ động sống ly thân với ông R từ đầu năm 2022 cho đến nay. Quá trình ly thân bà D cũng đã suy nghĩ rất kỹ, tôi cũng đã hết tình cảm vợ chồng với ông R nên bà D khởi kiện xin ly hôn với ông R.

Quá trình chung sống, bà D và ông R có 02 con chung là Đào Thị D1, sinh ngày 08/02/2005 và Đào Thị Hằng N, sinh ngày 14/9/2010. Hiện tại các con chung đều đang do bà D trực tiếp nuôi dưỡng, ông R không có phụ cấp trong thời gian ly thân. Nay ly hôn bà D yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc các con chung, bà D không yêu cầu ông R phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Quá trình tố tụng, bị đơn Ông Đào Văn R đã được được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng ông R vẫn vắng mặt không lý do chính đáng và cũng không có văn bản trình bày ý kiến liên quan đến yêu cầu khởi kiện gửi đến Tòa án.

* Kiểm sát viên đại diện VKSND thị xã Bến Cát phát biểu quan điểm:

- Về thủ tục tố tụng:

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70 và 71 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt và không có ý kiến trình bày, nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn là đúng quy định pháp luật.

- Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho nguyên đơn được quyền ly hôn với bị đơn. Về con chung, đề nghị giao các con chung là Đào Thị Diễm, sinh ngày 08/02/2005 và Đào Thị Hằng Ni, sinh ngày 14/9/2010 cho bà Huỳnh Thị Cẩm D được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc. Ghi nhận việc bà D tự nguyện không yêu cầu ông R cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Các đương sự có tranh chấp về ly hôn và nuôi con; bị đơn Ông Đào Văn R có địa chỉ cư trú tại: Khu phố Phú Nghị, phường Hoà Lợi, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, nên đây là vụ án tranh chấp ly hôn và nuôi con và thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương theo quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về việc xét xử vắng mặt đương sự:

Nguyên đơn bà D đã có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Bị đơn ông R đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và giấy triệu tập để tham gia phiên tòa, tuy nhiên ông R vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Bà Huỳnh Thị Cẩm D và Ông Đào Văn R tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Vị Trung, huyện Vị Thuỷ, tỉnh Hậu Giang vào ngày 11/8/2010 theo số 94, quyển số 01/2010. Do đó quan hệ hôn nhân giữa bà D và ông R là hợp pháp.

Nguyên đơn bà D khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn ông R do bà D nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã quá trầm trọng, không thể hàn gắn được, vợ chồng đã sống ly thân hơn 01 năm nay. Xét thấy, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng và vắng mặt tại phiên tòa xét xử vụ án, điều đó cho thấy bị đơn không quan tâm đến hạnh phúc gia đình, không có thiện chí hàn gắn tình cảm với nguyên đơn. Nguyên đơn và bị đơn đã sống ly thân trông một thời gian rất dài và không còn quan tâm chăm sóc nhau theo đúng nghĩa vợ chồng. Do đó, xét thấy mâu thuẫn giữa bà D và ông R đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà D với bị đơn ông R, bà D được ly hôn với ông R.

Về con chung: Xét các con chung của bà D và ông R là cháu Đào Thị D1, sinh ngày 08/02/2005 và Đào Thị Hằng N, sinh ngày 14/9/2010 trong quá trình giải quyết vụ án cháu Diễm và cháu Ni đã trình bày nguyện vọng của cháu là muốn được sống với bà D, bà D có công việc và thu nhập ổn định, bà D tự nhận thấy mình đủ khả năng nuôi dưỡng con chung và cùng có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng các con chung là có căn cứ chấp nhận. Bà D cũng tự nguyện không yêu cầu ông R phải cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này.

Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không tranh chấp, không yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định.

Xét lời đề nghị của vị đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, đúng quy định pháp luật, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84; Điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Cẩm D đối với bị đơn Ông Đào Văn R về việc: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Cẩm D được ly hôn với bị đơn Ông Đào Văn R.

- Về con chung: Giao các con chung là cháu Đào Thị Diễm, sinh ngày 08/02/2005 và Đào Thị Hằng Ni, sinh ngày 14/9/2010 cho bà Huỳnh Thị Cẩm D được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông Đào Văn R không phải cấp dưỡng nuôi con.

Bà D và ông R đều có quyền và nghĩa vụ đối với các con chung. Ông R được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc các con chung, không ai được quyền cản trở.

Vì lợi ích của các con chưa thành niên, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết về thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không tranh chấp nên không xem xét giải quyết.

2. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

Bà Huỳnh Thị Cẩm D phải nộp số tiền 300.000 đồng, được khấu trừ hết vào số tiền tạm ứng án phí bà D đã nộp theo Biên lai số 0001363 ngày 23/11/2022 tại Chi cục THADS thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

3. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật./.

Cỡ chữ