vanban.org

Bản án 20/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn chị Huỳnh Vân L đối với bị đơn anh Bùi Thế D. Cho chị Huỳnh Vân L được ly hôn với anh Bùi Thế D. Về con chung: Chấp nhận yêu cầu nuôi con chung của chị Huỳnh Vân L , cho chị L được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Bùi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG MỸ
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 14 – 3 – 2023
V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ - TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lữ Thành Đồng.

Các Hội Thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Út

Ông Danh Lươl

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo, là Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

Ngày 14 tháng 3 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 241/2022/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2022, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 31 tháng 01 năm 2023 và Quyết đi ̣nh hoan phiên tõ

̀a số 02/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 16 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Huỳnh Vân L, sinh năm: 1992 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

2. Bị đơn: Anh Bùi Thế D, sinh năm: 1986 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp 12, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Huỳnh Vân L (gọi tắt là chị L) trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh Bùi Thế D (gọi tắt là anh D) tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2017 và có đăng ký kết hôn theo quy định tại Uỷ ban nhân dân xã Vĩnh Viễn. Hôn nhân do anh chị cùng tự nguyện.

Nguyên nhân mâu thuẫn: Sau khi kết hôn thì vợ chồng sống chung hạnh phúc sau đó thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, do vợ chồng không hợp nhau, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, mặc dù vợ chồng đã nhiều lần hàn gắn nhưng vẫn không có kết quả. Vì vậy, chị L cương quyết yêu cầu được ly hôn với anh D.

Về con chung: Chị L khai trong quá trình sống chung anh chị có 01 con chung, tên Bùi Minh Kh (giới tính: nam), sinh ngày 14/02/2020, hiện con đang sống với chị L, khi ly hôn chị L yêu cầu được tiếp tu ̣c nuôi , không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị L khai không có tài sản chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nợ chung: Chị L khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Bùi Thế D (gọi tắt là anh D) trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh D thừa nhận vợ chồng anh chị có đăng ký kết hôn với nhau theo quy định của pháp luật tại Uỷ ban nhân dân xã V, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. Nguyên nhân mâu thuẫn: Trong thời gian sống chung vợ chồng cũng xảy ra một số mâu thuẫn nhỏ tuy nhiên anh D vẫn còn thương vợ con nên không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Anh D thống nhất vợ chồng có 01 con chung, tên Bùi Minh Kh (giới tính: nam), sinh ngày 14/02/2020, hiện con đang sống với chị L.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh D thống nhất vợ chồng không có tài sản chung và không có nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong trường hợp Toà án giải quyết cho vợ chồng anh chị ly hôn thì anh D có ý kiến như sau: Về con chung: Anh D yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu chị L cấp dưỡng. Về tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết. Ngoài ra, anh D không còn yêu cầu gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa để phân tích và đánh giá về những chứng cứ, những tình tiết của vụ án, hội đồng xét xử nhận định:

. Nguyên đơn chị Huỳnh Vân L khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với bị đơn anh Bùi Thế D. Đối chiếu theo quy định tại Điều 28, Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 51, Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì quan hệ pháp luật trong vụ kiện này là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” . Bị đơn anh Bùi Thế D có địa chỉ cư trú tại ấp 12, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang theo quy định tại Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của chị Lam và ý kiến của anh Duy, hội đồng xét xử thấy rằng:

. Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2017 chị L và anh D tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định tại Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Viễn, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang nên hôn nhân của anh chị là phù hợp theo quy định tại Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Trong quá trình sống chung với anh Duy, chị Lam cho rằng cuộc sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, cuộc sống chung không còn hạnh phúc, mặc dù vợ chồng nhiều lần hàn gắn nhưng không có kết quả nên anh chị đã không còn sống chung với nhau từ đầu năm 2022 đến nay. Anh D thừa nhận trong thời gian sống chung vợ chồng cũng xảy ra một số mâu thuẫn nhỏ và anh chị đã không còn sống chung từ đầu năm 2022 đến nay, tuy nhiên anh D cho rằng vẫn còn thương vợ con nên không đồng ý ly hôn.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của các đương sự thấy rằng, vợ chồng anh chị đã không còn chung sống với nhau từ đầu năm 2022 đến nay, mặc dù vợ chồng có nhiều lần hàn gắn nhưng không có kết quả, từ khi Toà án thụ lý vụ án đến nay vợ chồng cũng không hàn gắn được. Tại phiên toà, chị L cũng cương quyết yêu cầu được ly hôn với anh Duy và không thể tiếp tục duy trì mối quan hệ vợ chồng với anh D được nữa. Anh D cũng không đưa ra được cơ sở gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng . Điều đó cho thấy tình cảm vợ chồng giữa chị L và anh D thật sự có mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, vợ chồng không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh chị không thể tiếp tục duy trì quan hệ vợ chồng. Do đó, hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L đối với anh D.

. Về con chung: Chị L và anh D cùng thống nhất có 01 con chung, tên Bùi Minh Kh (giới tính: nam), sinh năm: 2020, hiện con đang sống với chị L. Xét yêu cầu nuôi con chung của chị L và anh D, hội đồng xét xử thấy rằng: Từ khi sinh ra thì cháu Kh sống chung với vợ chồng anh chị nhưng từ khi anh chị không còn sống chung với nhau thì cháu Kh sống với chị L, được chi ̣ L chăm sóc, lo lắng cho cháu đầy đủ. Vì vậy, để đảm bảo cho sự phát triển toàn diện về tâm sinh lý cũng như ổn định cuộc sống cho cháu Kh, Hội đồng xét xử thống nhất giao cháu Kh cho chị L được tiếp tục nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Anh Bùi Thế D có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được quyền cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình. Về cấp dưỡng: Chị L không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

. Về tài sản chung: Chị L và anh D khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

. Về nợ chung: Chị L và anh D khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc chị L phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Điều 9; Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81, Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn chị Huỳnh Vân L đối với bị đơn anh Bùi Thế D. Cho chị Huỳnh Vân L được ly hôn với anh Bùi Thế D.

2. Về con chung: Chấp nhận yêu cầu nuôi con chung của chị Huỳnh Vân L , cho chị L được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Bùi Minh Kh (giới tính: nam), sinh ngày 14/02/2020, hiện nay cháu Kh đang sống chung với chị L.

Về cấp dưỡng: Chị Huỳnh Vân L không yêu cầu anh Bùi Thế D cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Dành quyền thăm nom chăm sóc, giáo dục con chung cho anh Bùi Thế D không ai được quyền ngăn cản.

3. Về tài sản chung: Không có, nên không xem xét.

4. Về nợ chung: Không có, nên không xem xét.

5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn chị Huỳnh Vân L phải nộp án phí với số tiền là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng). Được khấu trừ 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo lai thu số 0006520 phiếu lập ngày 18/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

6. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ